Uncategorized

Tiểu luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên – Tài liệu text

Tiểu luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (528.88 KB, 32 trang )

Tiểu luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay”

Mục lục
A.
1.
2.
3.
4.
5.
B.

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đồi tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Kết cấu tiểu luận
NỘI DUNG

CHƯƠNG I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Quan niệm cơ bản về cán bộ, công chức
1.1.1.
Cán bộ
1.1.2.
Công chức
1.2. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã……………………….
1.3. Sự cần thiết nâng cao chất lượng công đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã.

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
2.1. Thực trạng Tuyển dụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã tỉnh hưng yên hiện nay
2.1.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ
2.1.2. Thực trạng đội ngũ công chức
2.1.3. Nhận xét chung
2.1.3.1.Thành tựu và nguyên nhân
2.1.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
2.2. . Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
tỉnh Hưng yên hiện nay
2.2.1. Thực trạng về đào tạo

2.2.2. Thực trạng về bồi dưỡng
2.2.3.Nhận xét chung
2.2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
2.2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.Bài học

CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TỈNH HƯNG YÊN
3.1. Quan điểm của Đảng
3.2. Giải pháp
3.2.1. Giải pháp chung
3.2.2. Giải pháp cụ thể
3.2.3. Đề xuất, kiến nghị
C. KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước,hiện nay, cùng
với công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính cũng
được Đảng và nhà nước quan tâm kịp thời. Trong đó, nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ( gọi chung là cán
bộ, công chức) là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải
cách hành chính, góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong
sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhà
nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“cấp xã là gần
gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi
công việc đều xong xuôi” , trong quá trình hoạt động của mình, Đảng ta luôn
quan tâm đến vai trò quan trọng của cán bộ, công tác cán bộ và đánh giá cao
vai trò của cơ sở. Nhất là từ Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII), Nghị
quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VIII). Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ra nghị quyết “về đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Đảng ta xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá vì thế
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã lại càng có vai trò quan trọng.
Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước bao gồm nhiều cấp. tuy nhiên,
cán bộ cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã) có tầm
quan trọng bậc nhất. Bởi lẽ, mặc dù cấp xã là cấp đơn vị hành chính nhỏ
nhất nhưng lại là nơi gần dân nhất, nơi mà mọi đường lối chủ trương chính
sách của Đảng, Nhà nước trực tiếp đi vào cuộc sống, đồng thời là nơi tiếp
thu những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh tới các tổ chức

đảng và Nhà nước. Trên thực tế, cán bộ cấp xã hàng ngày phải giải quyết
một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến tất cả
mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng; Song hiện nay, một bộ phận không nhỏ đội ngũ càn bộ, công chức
cấp xã thiếu phẩm chất và năng lực gây những hậu quả trực tiếp và nghiêm
trọng về nhiều mặt cho các địa phương nói riêng và cho cả nước nói chung.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề trên, Em chọn vấn đề
nghiên cứu “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
2.

Đồi tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tiểu luận nghiên cứu xung quanh vấn đề nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Phạm vi:

– Không gian: Tỉnh Hưng yên
– Thời gian :

3.

gian đoạn 1010- 1015

Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Làm rõ cả về lý luận và thực tiễn việc nâng cao chất lượng
công tác giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cám bộ, công chức cấp xã ở tỉnh
hưng yên giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ: Chương I. Làm rõ cơ sở lý luận , nhận thức chung về nâng

cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
Chương II. Làm rõ cơ sở thực tiễn: Những thành tựu, hạn chế
và nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh hưng yên ……..
Chương III. Từ thực trạng công tác nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh hưng yên, Đưa ra những quan điểm,
giải pháp tối ưu .

4.

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Sử dụng các biện pháp khoa học ứng dụng như
– Quan sát
– Điều tra
– Phỏng vấn
– Phân tích
– Tổng hợp
– Liệt kê
– Thu thập tài liệu…..
5.

Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận ra, tiểu luận được chia thành 3 chương cụ
thể và có mối quan hê mật thiết với nhau.
Chương I. . NHẬN THỨC CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Chương II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chương III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC CẤP XÃ ở TỈNH HƯNG
YÊN
A.NỘI DUNG
CHƯƠNG I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1.Quan niệm cơ bản về cán bộ, công chức
Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là người đóng vai trò to lớn
trong hoạt động quản lý của nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, họ
đảm bảo sự lãnh đạo các quá trình sản xuất, xác định hướng phát triển khoa

học kỹ thuật phục vụ sản xuất, thực hiện các biện pháp tổ chức … Cán bộ,
công chức nhà nước là lực lượng nòng cốt quyết định mọi vấn đề của đất
nước.
– Tại Điều 1: Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy
định:
Khoản 1. Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dân
Việt Nam trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương;
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh ); ở
quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc

giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;
đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân;
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân dội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo
nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ;
người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị
trấn;
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã;
Khoản 2. Cán bộ, công chức quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, g và h
khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công
chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách
nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật.
Cán bộ
Trong mỗi thời điểm khác nhau thì Nhà nước ta có sử dụng các thuật ngữ
khác nhau để chỉ đối tượng công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước cấp.
Theo Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008: “Cán bộ là công
dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh

theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước”. Bao gồm:
• Cán bộ ở trung ương, tỉnh, huyện
• Cán bộ chuyên trách cấp xã(8 chức danh)
• Bí thư, phó bí thư Đảng ủy xã hoặc thường trực Đảng ủy
xã hoặc bí thư, phó bí thư chi bộ xã.
• Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã tương đương
• Chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã tương đương
• Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã

• Chủ tịch Hội phụ nữ xã
• Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã
• Chủ tịch Hội nông dân xã
• Bí thư Đoàn xã
Công chức
Theo điều 4 Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch công chức,giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi
chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự

nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
1.2 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện
nay cần chú trọng vào hai nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, Công tác tuyển dụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã hiện nay
Tuyển dụng công chức là quá trình bổ sung những người đủ tiêu
chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức. Đây là một quá trình thường xuyên
và cần thiết để xây dựng và phát triển đội ngũ công chức. Theo tinh thần đổi
mới, từ nay trở đi việc 40tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, vị

trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Những người có đủ các điều kiện, không
phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều được
đăng ký dự tuyển công chức. Đó là các điều kiện sau:
a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
b) Đủ 18 tuổi trở lên;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;
Sử dụng cán bộ, công chức là việc sắp xếp, bố trí sử dụng CBCC cấp
xã một cách khoa học và hợp lý nhằm phát huy năng lực, sở trường của từng
CBCC nhằm hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã hiện nay
Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,
kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ
năng làm việc.

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã
gồm:
+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn cho
cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã.
+ Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ
cho Chủ tịch HĐND và Chủ tịch UBND cấp xã.
+ Đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức tin học cho các đối tượng cán
bộ chuyên trách cấp xã, ưu tiên đối tượng là Chủ tịch UBND cấp xã. Đào tạo

tiếng dân tộc cho cán bộ chuyên trách cấp xã công tác tại vùng có đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống.
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
Đối với công chức, viên chức ngạch chuyên viên và chuyên viên
chính trong độ tuổi đều phải qua chương trình đào tạo lại theo qui định của
ngạch.
Đối với công chức, viên chức đang trong thời gian tập sự đều phải qua
bồi dưỡng tiền công vụ;
Đối với số cán bộ trẻ, có triển vọng, lớp cán bộ tạo nguồn cần phải
đào tạo cơ bản, toàn diện để có kiến thức cơ bản, có năng lực thực tiễn và có
kỹ năng thực hành nhất định để đảm đương được nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu
về lâu dài.
1.3.

Sự cần thiết nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Thứ nhất, Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Thứ hai, Xuất phát từ vai trò của cán bộ cấp xã và chính quyền cấp


Thứ ba,Xuất phát từ thực trạng tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay
Thứ tư, Xuất phát từ tình trạng bất cập về trình độ, năng lực của đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã yêu cầu nâng cao phẩm chất đạo đức; khắc
phục tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
hiện nay
Chính vì vậy, đây cũng là một yếu tố đòi hỏi phải nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Thực trạng công tác tuyển sụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã ở tỉnh hưng yên hiện nay
2.1.1.Thực trạng đội ngũ cán bộ
Tính đến 2/ 2012, Trên toàn tỉnh đã tuyển dụng và sử dụng số cán bộ
chuyên trách là 1.650 người (thiếu 09 người so với biên chế được giao).
Trình độ chuyên môn: đạt chuẩn trở lên 675 người (tỷ lệ 40,91%) trong đó:
đại học 161 người (tỷ lệ 9,76%), cao đẳng 17 người (tỷ lệ 1,03%), trung cấp
497 người (tỷ lệ 30,12%). Số chưa đạt chuẩn 975 người (tỷ lệ 59,09%) trong
đó: 34 người trình độ sơ cấp (tỷ lệ 2,06%), 941 người chưa qua đào tạo (tỷ lệ
57,03%).
2.1.2. Thực trạng đội ngũ công chức
Tính đến 2/ 2012.Về trình độ chuyên môn: số công chức trong biên
chế toàn tỉnh là 1.083 người, đạt chuẩn trở lên 875 người (tỷ lệ 80,79%),
trong đó: 819 người trình độ trung cấp (tỷ lệ 75,62%), 14 người trình độ cao
đẳng (tỷ lệ 1,29%) và 42 người trình độ đại học (tỷ lệ 3,88%); chưa đạt
chuẩn là 208 người (tỷ lệ 19,21%) trong đó có: 201 người chưa qua đào tạo
(tỷ lệ 18,57%); 07 người trình độ sơ cấp (tỷ lệ 0,64%). Số cán bộ đang hợp

đồng chờ thi công chức là 171 người, trong đó: trình độ đại học 9 người, cao
đẳng 03 người, trung cấp 151 người, sơ cấp 08 người. Số thiếu so với biên
chế được giao là 29 người.
2.1.3. Nhận xét chung
2.1.3.1.Ưu điểm

Công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
tỉnh hưng yên nhìn chung khá đồng đều và hợp lý. Tuyển chọn chủ yếu
những người có đủ năng lực, phẩm chất.Sử dụng đúng người đúng việc.
1)Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hưng Yên vẫn
giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng; có bản lĩnh và lập trường chính trị
vững vàng; có tinh thần trách nhiệm trong công tác; luôn gắn bó và giữ mối
quan hệ mật thiết với nhân dân.
2)Trình độ đào tạo về các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã, đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từng bước được nâng lên.
3)Về cơ cấu đội ngũ đã có chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ
lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ được nâng lên đáng kể.
2.1.3.2.Hạn chế
Tuy đạt được một số ưu điểm và tiến bộ ở trên, song công tác tuyển
chọn, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hưng Yên còn bộc lộ
một số tồn tại, hạn chế cần được quan tâm giải quyết:
Trong qúa trình tuyển chọn, sử dụng Cán bộ, công chức cấp xã còn
mang tính chủ quan, cảm tính, hoặc vì tư lợi.Nhiều chức danh chưa tương
xứng với năng lực hoặc bố chí sắp xếp không đúng vị trí, không khoa
học.Dẫn tới
1, Kỹ năng nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, khả năng sẵn sàng đáp ứng sự
thay đổi nhiệm vụ, môi trường công tác của cán bộ, công chức cấp xã còn
yếu. Không ít cán bộ, công chức cấp xã chưa nắm chắc chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền được giao nên giải quyết công việc còn mang tính chủ quan,

tuỳ tiện, xử lý các vụ việc không đúng pháp luật, vi phạm chính sách của
Đảng và Nhà nước.
2, Một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã sa sút về phẩm chất đạo đức, tinh
thần trách nhiệm kém, quan liêu, hách dịch và tham nhũng

3,Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã tỉnh Hưng Yên còn chưa phù
hợp.
Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng, điều động, tiếp
nhận cán bộ, công chức có trình độ, chuyên ngành đào tạo không phù hợp
với nhiệm vụ chuyên môn của từng vị trí công tác cụ thể nên không tránh
khỏi phải đào tạo lại, gây lãng phí
Thứ hai, một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng, điều động, tiếp nhận cán bộ,
công chức có trình độ, chuyên ngành đào tạo không phù hợp với nhiệm vụ
chuyên môn của từng vị trí công tác cụ thể nên không tránh khỏi phải đào
tạo lại, gây lãng phí
2.2. . Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh hưng yên hiện nay
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một trong những khâu then
chốt trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức. Vì vậy, trong thời gian qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo,
triển khai thực hiện đạt nhiều kết quả. Số liệu thống kê cho thấy, giai đoạn
2010- 2012 so với giai đoạn 2008-2010 toàn tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
được 24.120 lượt cán bộ, công chức, tăng 142% so với giai đoạn 2008-2010
(11.236 lượt).
Cụ thể:
2.2.1. Thực trạng về Đào tạo
Đào tạo lý luận chính trị trình độ cao cấp, trung cấp cho 4.449 lượt
cán bộ, công chức, tăng 35,09%.

Đào tạo sau đại học cho 247 cán bộ, công chức, tăng 104,67%.
Đào tạo chuyên môn trình độ đại học là cán bộ, công chức cấp xã là
512 người, tăng 218,3%.

Đào tạo chuyên môn trình độ trung cấp cho 423 cán bộ, công chức,
giảm 108,8%.
Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên,
chuyên viên chính cho 857 cán bộ, công chức tăng 42,7%.
Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước cho 2.193 cán bộ,
công chức cấp xã. Các kiến thức và kỹ năng này bắt đầu triển khai thực hiện
bồi dưỡng từ năm 2008
Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cho 18.486
lượt cán bộ, công chức, tăng 199,63%.
Về đào tạo chuyên môn:
Trong tỉnh đã mở 22 lớp với 1.574 cán bộ, công chức.
– Năm 2008: 02 lớp cử nhân Hành chính với 204 cán bộ, công chức;
02 lớp Trung cấp Hành chính cấp xã với 192 cán bộ, công chức; 06 lớp đào
tạo ngoại ngữ với 300 cán bộ, công chức; 01 lớp Trung cấp Văn thư – Lưu
trữ cấp xã với 90 cán bộ, công chức; 01 lớp đào tạo Chỉ huy trưởng Quân sự
cấp xã với 87 cán bộ, công chức.
– Năm 2009: 01 lớp đào tạo Tiền công vụ với 68 cán bộ, công chức;
02 lớp đào tạo nghiệp vụ cho Trưởng Công an cấp xã với 107 cán bộ, công
chức.
– Năm 2010: 01 lớp cử nhân Hành chính với 131 cán bộ, công chức;
01 lớp Trung cấp Hành chính cấp xã với 86 cán bộ, công chức.
– Năm 2011: 01 lớp cử nhân Hành chính với 153 cán bộ, công chức;
01 lớp đại học Báo chí với 74 cán bộ, công chức; 01 lớp đại học Luật với
124 cán bộ, công chức; 01 lớp trung cấp Hành chính với 99 cán bộ, công
chức; 01 lớp trung cấp Hành chính với 113cán bộ, công chức ; 01 lớp trung

cấp Hành chính với 80 cán bộ, công chức ; 01 lớp Trung cấp nghiệp vụ và
trung cấp Chính trị cho Trưởng Công an cấp xã với 91 cán bộ, công chức; 01

lớp Trung cấp Hành chính kết hợp đào tạo Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã
với 50 cán bộ, công chức.
– Đầu năm 2012: 01 lớp Đại học Văn hóa với 104 cán bộ, công chức.
2.2.2 Thực trạng về bồi dưỡng :
– Năm 2005: 02 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương
trình chuyên viên với 162 cán bộ, công chức.
– Năm 2006: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương
trình chuyên viên chính với 58 cán bộ, công chức; 3 lớp bồi dưỡng kiến thức
quản lý nhà nước chương trình chuyên viên với 246 cán bộ, công chức.
– Năm 2007: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương
trình cán sự với 80 cán bộ, công chức; 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý
nhà nước chương trình chuyên viên với 86 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi
dưỡng chức danh Chủ tịch HĐND-UBND xã với 188 cán bộ, công chức; 02
lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức xã với 91 cán bộ,
công chức;
– Năm 2008: 03 lớp bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho Chủ tịch, Phó
chủ tịch UBND cấp xã với 272 cán bộ, công chức
– Năm 2009: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương
trình cán sự với 62 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý
nhà nước chương trình chuyên viên với 200 cán bộ, công chức; 01 lớp bồi
dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên với 200 cán bộ,
công chức; 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cán bộ thôn, ấp
huyện Đồng Phú với 135cán bộ, công chức; 03 lớp bồi dưỡng kỹ năng hành
chính cho cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện với 313cán bộ, công chức; 02
lớp bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng
với 313 cán bộ, công chức; 02 bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho cán bộ,

công chức cấp xã với 233 cán bộ, công chức; 01 lớp bồi dưỡng kỹ năng hành

chính cho cán bộ, công chức làm tại bộ phận một cửa cấp tỉnh, huyện, xã với
129 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ với
220 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng Đại biểu HĐND với 314 cán bộ,
công chức.
– Năm 2011: 01 lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ địa
chính – xây dựng cấp xã với 110 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng quản
lý nhà nước chương trình chuyên viên với 140 cán bộ, công chức; 03 lớp bồi
dưỡng kỹ năng hành chính với 297 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng kỹ
năng quản lý và điều hành cho Chủ tịch UBND cấp xã với 110 cán bộ, công
chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thi đua – Khen thưởng với 215 cán bộ,
công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tổ chức nhà nước với 217cán bộ,
công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ với 140 cán bộ,
công chức; 07 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tôn giáo với 617 cán bộ, công chức.
2.2.3. Nhận xét chung
2.2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
Thành tựu
Một là, Đã ban hành được hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức và thu hút cán bộ có chất lượng cao về công
tác tại tỉnh và chính quyền cơ sở
Hai là, Đã xây dựng được các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng từ tỉnh đến
huyện, thành phố và thực hiện liên kết đào tạo có hiệu quả với các cơ sở đào
tạo ngoài tỉnh.
Ba là, Quy mô đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng; chuyên ngành đào
tạo ngày càng phong phú; nội dung chương trình các khóa bồi dưỡng dần
thiên về bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ có khả năng đáp ứng nhu cầu đào tạo,
bồi dưỡng ngày càng lớn của đội ngũ cán bộ, công chức.

Bốn là, Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đã từng bước nâng cao trình độ,
chất lượng, năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công
chức, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính
trị.
Nguyên nhân
1)Công tác đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian qua đã được sự quan
tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
2) Nhiều địa phương, đơn vị, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đã chủ động
phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài tỉnh mở các lớp đại học, trung
cấp hệ vừa làm vừa học tại địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ,
công chức tham gia học tập, nâng cao trình độ.
3)Việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện
nghiêm túc theo trình tự, thủ tục đã được UBND tỉnh quy định, đảm bảo
đúng đối tượng, mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời gắn với
quy hoạch sử dụng cán bộ.
2.2.2. Một số tồn tại và nguyên nhân
Hạn chế
Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cũng còn một số tồn tại cơ bản, đó là:
Một là, đối với cơ quan: Đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với quy hoạch
cán bộ. Chưa quan tâm đúng mức đến đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ
nhiệm và đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo quản lý đương chức.
Cơ quan cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng có xem xét, lựa
chọn nhưng chủ yếu dựa vào thâm niên công tác, ngạch bậc lương, các mối
quan hệ
Hai là, Đối với cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chủ
yếu vẫn là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo

tiêu chuẩn chức danh công chức hoặc để được đề đạt, bổ nhiệm, được
chuyển ngạch cao hơn, thậm chí học để “đánh bóng” tên tuổi của mình chứ
chưa thực sự có mục đích học để nâng cao trình độ, phục vụ cho công việc
chuyên môn.
Ba là, Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng còn nặng về lý luận, dàn trải, thiếu sự liên thông, liên kết, kế thừa,
còn trùng lặp về nội dung, thiếu tính thiết thực, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹ
năng, nghiệp vụ công tác cho cán bộ, công chức
Đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức năng lực còn hạn chế, nhất là về kiến thức, kinh nghiệm quản lý nhà
nước và phương pháp giảng dạy. Trong khi đó, đội ngũ giảng viên kiêm
chức tuy có chú trọng xây dựng nhưng chưa được bồi dưỡng thường xuyên
về nghiệp vụ sư phạm, phương pháp giảng dạy cho người lớn tuổi.
Chương trình, tài liệu giảng dạy còn lạc hậu, chậm đổi mới; nội dung
trùng lặp, nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành và tổng kết thực tiễn.
Bốn là, Chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chưa cao. Hoạt động
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời gian qua mới chỉ tập trung
vào việc trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn trình độ mà chưa tập trung vào
việc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc.
Nguyên nhân
1) Nhận thức tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng của các
cơ quan tổ chức, cán bộ, công chức còn hạn chế. Nên chưa có những kế
hoạch cụ thể cho việc đào tạo, bồi dưỡng.
2) Công tác quy hoạch đào tạo để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
đảm bảo cơ cấu, chức danh đồng bộ, hợp lý chưa được định hướng rõ; đào
tạo, bồi dưỡng chưa gắn với sử dụng.

3) Các cơ sở đào tạo chưa quan tâm đến việc xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ giảng viên, nhất là bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thực

tiễn, phương pháp giảng dạy mới. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ
sở đào tạo thiếu đồng bộ.
4) Một bộ phận cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, bồi
dưỡng còn thụ động; động cơ học tập chủ yếu là để có đủ bằng cấp, chứng
chỉ quy định, chưa xuất phát từ nhu cầu, mong muốn thực hiện nhiệm vụ,
công vụ được tốt hơn.
5) Các chế độ, chính sách cho người được đi đào tạo, bồi dưỡng chưa
rõ ràng, hạn chế, chưa tạo điều kiện cho họ, không thúc đẩy tích cực việc
tham gia nâng cao trình độ trong đội ngũ cán bộ, công chức.
CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỈNH HƯNG
YÊN
3.1. Quan điểm của Đảng
Đảng ta luôn xác định “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là
khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Phải thường xuyên chăm lo
xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng…”. Chính vì vậy, các Nghị quyết của Đảng đều
dành sự quan tâm thích đáng cho việc đánh giá, chỉ đạo công tác cán bộ nói
chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Từ Nghị quyết Trung
ương 8 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 6
(khoá VIII). Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
IX) đã ra nghị quyết “về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị
ở cơ sở xã, phường, thị trấn”.

Đặc biệt, sau nhiều năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là khi thực
hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại
hoá đất nước”, đội ngũ cán bộ đã có bước phát triển về số lượng và chất

lượng, góp phần quan trọng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, giữ
vững ổn định chính trị, xây dựng tỉnh ngày một phát triển.
3.2. Giai pháp

3.2.1. Giải pháp chung
– Một là, giải pháp về nhận thức
cần tăng cường việc quán triệt sâu, rộng nhằm nâng cao hơn nữa nhận
thức, trách nhiệm của cấp uỷ đảng và lãnh đạo các cấp về xây dựng đội ngũ
cán bộ. Chỉ có hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội
ngũ cán bộ, từ đó có dự báo đúng tình hình, đánh giá đúng thực chất đội ngũ
cán bộ, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, có kế hoạch tuyển dụng, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị tốt cho trước mắt và lâu dài.
– Hai là, giải pháp đối với cơ quan, đơn vị
Cần làm tốt công tác tuyển dụng và sử dụng cán bộ, công chức, đặc
biệt là công tác tuyển dụng công chức. Đồng thời, cần tổng kết đánh giá
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thời gian qua và lãnh đạo, chỉ đạo
công tác tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh trong thời
gian tới chặt chẽ hơn.
– Ba là, giải pháp về cán bộ, công chức
quán triệt thực hiện nghiêm Quyết định số 586-QĐ/TU ngày
16/7/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy quy định về chế độ học tập bắt buộc
đối với cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên. Cán bộ, công chức phải
thực sự có năng lực, phẩm chất , hội tụ cả về trí lực và thể lực để đảm nhiệm
tốt các nhiệm vụ được giao phó.

Bốn là, , giải pháp về hoàn thiện, phát triển hệ thống pháp luật, các
chế độ, chính sách về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ cấp xã.
Cần có các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ,hợp lý; có chính sách

thu hút, tuyển chọn nhân tài, tham mưu đề xuất Tỉnh ủy bổ sung chế độ hỗ
trợ đối với cán bộ được cử đào tạo trong và ngoài tỉnh cho phù hợp với tình
hình thực tế, nhất là cán bộ, công chức cấp xã lương thấp, kinh phí cho việc
học và tự học lại gặp rất nhiều khó khăn.
Năm là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng quy
định công táctuyển chọn công chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ; xây
dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, công chức đã được bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại nhưng chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định.
– Sáu là, giải pháp đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Có chính sách khen thưởng động viên kịp thời đối với những cán bộ
tích cực học tập đạt kết quả tốt; nghiêm khắc xử lý những cán bộ, công chức
không chấp hành quyết định cử đi học, học tập kết quả kém làm lãng phí
thời gian, kinh phí và công sức để tổ chức các khóa học, lớp học, làm ảnh
hưởng đến kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh theo hình thức không xem
xét bổ nhiệm, hạ bậc lương hoặc đến mức kỷ luật phải xử lý kỷ luật.

3.2.2. Giải pháp cụ thể

Thứ nhất, giải pháp tuyển dụng và sử dụng cán bộ công chức.
– Mỗi cơ quan đơn vị phải xây dựng được cơ cấu ngạch công chức. Từ
đó có kế hoạch tuyển dụng người đúng cơ cấu và đủ tiêu chuẩn thông qua thi
tuyển nghiêm túc.
– Nghiên cứu, đề xuất nội dung thi tuyển cho phù hợp với từng ngành,
từng ngạch công chức theo hướng kết hợp với nội dung hiện có với việc bổ
sung nội dung chuyên môn để tuyển dụng những công chức có trình độ
chuyên môn cao.
– Xây dựng ngân hàng đề thi ở tất cả các ngành, các ngạch nhằm chủ
động và nâng cao chất lượng thi tuyển.
– Việc bố trí sử dụng cán bộ, công chức phải theo cơ cấu ngạch bậc,

gắn với chuyên môn đào tạo và sở trường.
– Bố trí cán bộ công chức làm đúng chuyên môn, ngành nghề được
đào tạo và đảm bảo tính ổn định.
– Thông qua công tác quản lý đánh giá cán bộ, công chức để nắm chắc
năng lực từng cán bộ, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử
dụng lâu dài cho đơn vị.
– Một số chức danh cán bộ chuyên trách cần thiết và có đủ điều kiện,
tiêu chuẩn của công chức nhà nước thì chuyển sang chế độ công chức nhà
nước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ các cấp. Số cán bộ này được
hưởng lương chuyên môn, nâng lương theo niên hạn và phụ cấp trách nhiệm
theo chức danh trên cơ sở phân loại xã.

– Các chức danh cán bộ chuyên trách khác không đủ điều kiện, tiêu
chuẩn để chuyển thành công chức nhà nước thì giữ nguyên. Khi được bầu cử
giữ chức vụ nào thì hưởng chế độ trách nhiệm theo chức vụ đó và thực hiện
chế độ bảo hiểm bắt buộc, khi thôi đảm nhiệm chức vụ thì thôi hưởng trợ
cấp trách nhiệm và thôi đóng bảo hiểm xã hội.
– Đối với cán bộ không chuyên trách thì thực hiện theo chế độ tự
quản, khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện.
Thứ tư, giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã trong thời kỳ mới.
Mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng là xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, trung thành với chế độ
xã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ, có trình độ quản lý tốt đáp ứng yêu
cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước.
Công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải căn cứ vào các nội dung sau:
– Gắn quy hoạch với đào tạo bồi dưỡng.
– Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức Nhà nước nhằm
từng bước đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn về nghiệp vụ công chức do Nhà nước

ban hành.
– Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng giúp cán bộ, công chức khắc phục tình
trạng hẫng hụt về trình độ chuyên môn quản lý, cập nhật các kiến thức đáp
ứng yêu cầu cải cách nền hành chính Nhà nước, kiện toàn, nâng cao hiệu lực
của bộ máy quản lý Nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
Định hướng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
+ Đối với đội ngũ công chức hành chính Nhà nước:

– Đào tạo để có trình độ học vấn đại học đáp ứng yêu cầu về tiêu
chuẩn ngạch công chức. Công chức dưới 45 tuổi đối với nữ và 50 tuổi đối
với nam phải được đào tạo đạt trình độ đại học và các hình thức đào tạo
thích hợp.
– Đào tạo qua thi tuyển để xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, có trình
độ và năng lực đề xuất và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách kinh
tế – xã hội lớn hoặc các đề án kinh tế – xã hội của địa phương.
– Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước, bồi dưỡng lý luận chính trị,
an ninh quốc phòng, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ, tin học phục vụ công
tác tham mưu, quản lý.
+ Đối với công chức chuyên môn
– Ưu tiên đào tạo bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ,
ngành nghề mà công chức đang làm.
– Tăng cường bồi dưỡng kiến thức về lý luận chính trị, tuyên truyền
phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cho công chức.
– Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng.
3.3. Đề xuất, kiến nghị
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một mục tiêu vừa
mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược, là nhiệm vụ không của riêng
một cấp, một ngành nào mà phải là sự nhất quán, phối hợp thực hiện từ
trung ương đến cơ sở; phải tổ chức được đông đảo người dân tham gia, thu

hút nhân tài đặc biệt là những người trẻ tuổi có kiến thức, kỹ năng, đạo đức
và tác phong làm việc tốt thông qua hình thức ưu việt đang được Đảng và
nhà nước phổ biến là hình thức thi tuyển công chức nhằm lựa chọn chính
xác những cán bộ cấp xã vừa “ hồng” vừa “chuyên’’.

KẾT LUẬN
Tiểu luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay” là sự khái quát,minh chứng một
cách khá toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay trong cả nước nói chung và ở tỉnh
Hưng Yên nói riêng.
Nếu như chương I đi làm rõ các khái niệm, nội dung, cũng như sự
cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thì
chương II lại đi nghiên cứu cụ thể về thực trạng công tác tuyển dụng, sử
dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán sộ, công chức cấp xã ở một địa bàn cụ
thể là tỉnh Hưng Yên.Từ những thành tựu cũng như những hạn chế và
nguyên nhân được đề cập ở chương II, chương III của tiểu luận đi sâu vào
việc khai thác, đề xuất những giải pháp cụ thể, đồng thời tác giả bài viết
cũng có một số đề xuất, kiến nghị mang tính xây dựng.
Thực tiễn công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã của tỉnh Hưng Yên những năm qua cho thấy, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức cấp xã là chủ trương đúng đắn mang tầm chiến lược
quan trọng trong mục tiêu cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁNBỘ, CÔNG CHỨC CẤP Xà Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆNNAY2.1. Thực trạng Tuyển dụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấpxã tỉnh hưng yên hiện nay2.1.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ2.1.2. Thực trạng đội ngũ công chức2.1.3. Nhận xét chung2.1.3.1.Thành tựu và nguyên nhân2.1.3.2 Hạn chế và nguyên nhân2.2. . Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xãtỉnh Hưng yên hiện nay2.2.1. Thực trạng về đào tạo2.2.2. Thực trạng về bồi dưỡng2.2.3.Nhận xét chung2.2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân2.2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân2.3.Bài họcCHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNGCAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨCCẤP Xà TỈNH HƯNG YÊN3.1. Quan điểm của Đảng3.2. Giải pháp3.2.1. Giải pháp chung3.2.2. Giải pháp cụ thể3.2.3. Đề xuất, kiến nghịC. KẾT LUẬNTÀI LIỆU THAM KHẢOMỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài.Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước,hiện nay, cùngvới công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính cũngđược Đảng và nhà nước quan tâm kịp thời. Trong đó, nâng cao chất lượngđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ( gọi chung là cánbộ, công chức) là một trong những nội dung quan trọng của công tác cảicách hành chính, góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trongsạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhànước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“cấp xã là gầngũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọicông việc đều xong xuôi” , trong quá trình hoạt động của mình, Đảng ta luônquan tâm đến vai trò quan trọng của cán bộ, công tác cán bộ và đánh giá caovai trò của cơ sở. Nhất là từ Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII), Nghịquyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VIII). Hội nghị lần thứnăm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ra nghị quyết “về đổimới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”.Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,Đảng ta xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá vì thếđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã lại càng có vai trò quan trọng.Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước bao gồm nhiều cấp. tuy nhiên,cán bộ cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã) có tầmquan trọng bậc nhất. Bởi lẽ, mặc dù cấp xã là cấp đơn vị hành chính nhỏnhất nhưng lại là nơi gần dân nhất, nơi mà mọi đường lối chủ trương chínhsách của Đảng, Nhà nước trực tiếp đi vào cuộc sống, đồng thời là nơi tiếpthu những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh tới các tổ chứcđảng và Nhà nước. Trên thực tế, cán bộ cấp xã hàng ngày phải giải quyếtmột khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến tất cảmọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốcphòng; Song hiện nay, một bộ phận không nhỏ đội ngũ càn bộ, công chứccấp xã thiếu phẩm chất và năng lực gây những hậu quả trực tiếp và nghiêmtrọng về nhiều mặt cho các địa phương nói riêng và cho cả nước nói chung.Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề trên, Em chọn vấn đềnghiên cứu “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ởtỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.2.Đồi tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng: Tiểu luận nghiên cứu xung quanh vấn đề nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.Phạm vi:- Không gian: Tỉnh Hưng yên- Thời gian :3.gian đoạn 1010- 1015Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứuMục tiêu: Làm rõ cả về lý luận và thực tiễn việc nâng cao chất lượngcông tác giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cám bộ, công chức cấp xã ở tỉnhhưng yên giai đoạn hiện nayNhiệm vụ: Chương I. Làm rõ cơ sở lý luận , nhận thức chung về nângcao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chứcChương II. Làm rõ cơ sở thực tiễn: Những thành tựu, hạn chếvà nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong việc nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh hưng yên ……..Chương III. Từ thực trạng công tác nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh hưng yên, Đưa ra những quan điểm,giải pháp tối ưu .4.Phương pháp nghiên cứuDựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh.Sử dụng các biện pháp khoa học ứng dụng như- Quan sát- Điều tra- Phỏng vấn- Phân tích- Tổng hợp- Liệt kê- Thu thập tài liệu…..5.Kết cấu tiểu luậnNgoài phần mở đầu và kết luận ra, tiểu luận được chia thành 3 chương cụthể và có mối quan hê mật thiết với nhau.Chương I. . NHẬN THỨC CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨCChương II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨCCẤP Xà Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAYChương III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC CẤP Xà ở TỈNH HƯNGYÊNA.NỘI DUNGCHƯƠNG I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ1.1.Quan niệm cơ bản về cán bộ, công chứcĐội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là người đóng vai trò to lớntrong hoạt động quản lý của nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, họđảm bảo sự lãnh đạo các quá trình sản xuất, xác định hướng phát triển khoahọc kỹ thuật phục vụ sản xuất, thực hiện các biện pháp tổ chức … Cán bộ,công chức nhà nước là lực lượng nòng cốt quyết định mọi vấn đề của đấtnước.- Tại Điều 1: Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quyđịnh:Khoản 1. Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dânViệt Nam trong biên chế, bao gồm:a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trongcơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương;ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh ); ởquận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ởtrung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;c) Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặcgiao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trungương, cấp tỉnh, cấp huyện;d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chứchoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhândân;e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân dội nhân dânmà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theonhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ;người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thịtrấn;h) Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn,nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã;Khoản 2. Cán bộ, công chức quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, g và hkhoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, côngchức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sáchnhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật.Cán bộTrong mỗi thời điểm khác nhau thì Nhà nước ta có sử dụng các thuật ngữkhác nhau để chỉ đối tượng công dân Việt Nam trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách Nhà nước cấp.Theo Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008: “Cán bộ là côngdân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trungương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước”. Bao gồm:• Cán bộ ở trung ương, tỉnh, huyện• Cán bộ chuyên trách cấp xã(8 chức danh)• Bí thư, phó bí thư Đảng ủy xã hoặc thường trực Đảng ủyxã hoặc bí thư, phó bí thư chi bộ xã.• Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã tương đương• Chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã tương đương• Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã• Chủ tịch Hội phụ nữ xã• Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã• Chủ tịch Hội nông dân xã• Bí thư Đoàn xãCông chứcTheo điều 4 Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008:“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch công chức,giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phảilà sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơquan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọichung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơnvị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sựnghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.1.2 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xãĐể nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiệnnay cần chú trọng vào hai nội dung cơ bản sau:Thứ nhất, Công tác tuyển dụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã hiện nayTuyển dụng công chức là quá trình bổ sung những người đủ tiêuchuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức. Đây là một quá trình thường xuyênvà cần thiết để xây dựng và phát triển đội ngũ công chức. Theo tinh thần đổimới, từ nay trở đi việc 40tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, vịtrí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Những người có đủ các điều kiện, khôngphân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều đượcđăng ký dự tuyển công chức. Đó là các điều kiện sau:a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;b) Đủ 18 tuổi trở lên;c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;Sử dụng cán bộ, công chức là việc sắp xếp, bố trí sử dụng CBCC cấpxã một cách khoa học và hợp lý nhằm phát huy năng lực, sở trường của từngCBCC nhằm hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao.Thứ hai, Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấpxã hiện nayĐào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹnăng làm việc.Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xãgồm:+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn chocán bộ chuyên trách, công chức cấp xã.+ Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụcho Chủ tịch HĐND và Chủ tịch UBND cấp xã.+ Đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức tin học cho các đối tượng cánbộ chuyên trách cấp xã, ưu tiên đối tượng là Chủ tịch UBND cấp xã. Đào tạotiếng dân tộc cho cán bộ chuyên trách cấp xã công tác tại vùng có đồng bàodân tộc thiểu số sinh sống.Hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:Đối với công chức, viên chức ngạch chuyên viên và chuyên viênchính trong độ tuổi đều phải qua chương trình đào tạo lại theo qui định củangạch.Đối với công chức, viên chức đang trong thời gian tập sự đều phải quabồi dưỡng tiền công vụ;Đối với số cán bộ trẻ, có triển vọng, lớp cán bộ tạo nguồn cần phảiđào tạo cơ bản, toàn diện để có kiến thức cơ bản, có năng lực thực tiễn và cókỹ năng thực hành nhất định để đảm đương được nhiệm vụ đáp ứng yêu cầuvề lâu dài.1.3.Sự cần thiết nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ, công chức cấp xã.Thứ nhất, Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền.Thứ hai, Xuất phát từ vai trò của cán bộ cấp xã và chính quyền cấpxãThứ ba,Xuất phát từ thực trạng tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồidưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nayThứ tư, Xuất phát từ tình trạng bất cập về trình độ, năng lực của độingũ cán bộ chính quyền cấp xã yêu cầu nâng cao phẩm chất đạo đức; khắcphục tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xãhiện nayChính vì vậy, đây cũng là một yếu tố đòi hỏi phải nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,CÔNG CHỨC CẤP Xà Ở TỈNH HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY2.1. Thực trạng công tác tuyển sụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã ở tỉnh hưng yên hiện nay2.1.1.Thực trạng đội ngũ cán bộTính đến 2/ 2012, Trên toàn tỉnh đã tuyển dụng và sử dụng số cán bộchuyên trách là 1.650 người (thiếu 09 người so với biên chế được giao).Trình độ chuyên môn: đạt chuẩn trở lên 675 người (tỷ lệ 40,91%) trong đó:đại học 161 người (tỷ lệ 9,76%), cao đẳng 17 người (tỷ lệ 1,03%), trung cấp497 người (tỷ lệ 30,12%). Số chưa đạt chuẩn 975 người (tỷ lệ 59,09%) trongđó: 34 người trình độ sơ cấp (tỷ lệ 2,06%), 941 người chưa qua đào tạo (tỷ lệ57,03%).2.1.2. Thực trạng đội ngũ công chứcTính đến 2/ 2012.Về trình độ chuyên môn: số công chức trong biênchế toàn tỉnh là 1.083 người, đạt chuẩn trở lên 875 người (tỷ lệ 80,79%),trong đó: 819 người trình độ trung cấp (tỷ lệ 75,62%), 14 người trình độ caođẳng (tỷ lệ 1,29%) và 42 người trình độ đại học (tỷ lệ 3,88%); chưa đạtchuẩn là 208 người (tỷ lệ 19,21%) trong đó có: 201 người chưa qua đào tạo(tỷ lệ 18,57%); 07 người trình độ sơ cấp (tỷ lệ 0,64%). Số cán bộ đang hợpđồng chờ thi công chức là 171 người, trong đó: trình độ đại học 9 người, caođẳng 03 người, trung cấp 151 người, sơ cấp 08 người. Số thiếu so với biênchế được giao là 29 người.2.1.3. Nhận xét chung2.1.3.1.Ưu điểmCông tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xãtỉnh hưng yên nhìn chung khá đồng đều và hợp lý. Tuyển chọn chủ yếunhững người có đủ năng lực, phẩm chất.Sử dụng đúng người đúng việc.1)Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hưng Yên vẫngiữ được phẩm chất đạo đức cách mạng; có bản lĩnh và lập trường chính trịvững vàng; có tinh thần trách nhiệm trong công tác; luôn gắn bó và giữ mốiquan hệ mật thiết với nhân dân.2)Trình độ đào tạo về các mặt của đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã, đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từng bước được nâng lên.3)Về cơ cấu đội ngũ đã có chuyển biến theo hướng tích cực, tỷlệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ được nâng lên đáng kể.2.1.3.2.Hạn chếTuy đạt được một số ưu điểm và tiến bộ ở trên, song công tác tuyểnchọn, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hưng Yên còn bộc lộmột số tồn tại, hạn chế cần được quan tâm giải quyết:Trong qúa trình tuyển chọn, sử dụng Cán bộ, công chức cấp xã cònmang tính chủ quan, cảm tính, hoặc vì tư lợi.Nhiều chức danh chưa tươngxứng với năng lực hoặc bố chí sắp xếp không đúng vị trí, không khoahọc.Dẫn tới1, Kỹ năng nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, khả năng sẵn sàng đáp ứng sựthay đổi nhiệm vụ, môi trường công tác của cán bộ, công chức cấp xã cònyếu. Không ít cán bộ, công chức cấp xã chưa nắm chắc chức năng, nhiệmvụ, thẩm quyền được giao nên giải quyết công việc còn mang tính chủ quan,tuỳ tiện, xử lý các vụ việc không đúng pháp luật, vi phạm chính sách củaĐảng và Nhà nước.2, Một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã sa sút về phẩm chất đạo đức, tinhthần trách nhiệm kém, quan liêu, hách dịch và tham nhũng3,Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã tỉnh Hưng Yên còn chưa phùhợp.Nguyên nhân hạn chếThứ nhất, một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng, điều động, tiếpnhận cán bộ, công chức có trình độ, chuyên ngành đào tạo không phù hợpvới nhiệm vụ chuyên môn của từng vị trí công tác cụ thể nên không tránhkhỏi phải đào tạo lại, gây lãng phíThứ hai, một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng, điều động, tiếp nhận cán bộ,công chức có trình độ, chuyên ngành đào tạo không phù hợp với nhiệm vụchuyên môn của từng vị trí công tác cụ thể nên không tránh khỏi phải đàotạo lại, gây lãng phí2.2. . Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ởtỉnh hưng yên hiện nayĐào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một trong những khâu thenchốt trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức. Vì vậy, trong thời gian qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo,triển khai thực hiện đạt nhiều kết quả. Số liệu thống kê cho thấy, giai đoạn2010- 2012 so với giai đoạn 2008-2010 toàn tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡngđược 24.120 lượt cán bộ, công chức, tăng 142% so với giai đoạn 2008-2010(11.236 lượt).Cụ thể:2.2.1. Thực trạng về Đào tạoĐào tạo lý luận chính trị trình độ cao cấp, trung cấp cho 4.449 lượtcán bộ, công chức, tăng 35,09%.Đào tạo sau đại học cho 247 cán bộ, công chức, tăng 104,67%.Đào tạo chuyên môn trình độ đại học là cán bộ, công chức cấp xã là512 người, tăng 218,3%.Đào tạo chuyên môn trình độ trung cấp cho 423 cán bộ, công chức,giảm 108,8%.Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên,chuyên viên chính cho 857 cán bộ, công chức tăng 42,7%.Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước cho 2.193 cán bộ,công chức cấp xã. Các kiến thức và kỹ năng này bắt đầu triển khai thực hiệnbồi dưỡng từ năm 2008Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cho 18.486lượt cán bộ, công chức, tăng 199,63%.Về đào tạo chuyên môn:Trong tỉnh đã mở 22 lớp với 1.574 cán bộ, công chức.- Năm 2008: 02 lớp cử nhân Hành chính với 204 cán bộ, công chức;02 lớp Trung cấp Hành chính cấp xã với 192 cán bộ, công chức; 06 lớp đàotạo ngoại ngữ với 300 cán bộ, công chức; 01 lớp Trung cấp Văn thư – Lưutrữ cấp xã với 90 cán bộ, công chức; 01 lớp đào tạo Chỉ huy trưởng Quân sựcấp xã với 87 cán bộ, công chức.- Năm 2009: 01 lớp đào tạo Tiền công vụ với 68 cán bộ, công chức;02 lớp đào tạo nghiệp vụ cho Trưởng Công an cấp xã với 107 cán bộ, côngchức.- Năm 2010: 01 lớp cử nhân Hành chính với 131 cán bộ, công chức;01 lớp Trung cấp Hành chính cấp xã với 86 cán bộ, công chức.- Năm 2011: 01 lớp cử nhân Hành chính với 153 cán bộ, công chức;01 lớp đại học Báo chí với 74 cán bộ, công chức; 01 lớp đại học Luật với124 cán bộ, công chức; 01 lớp trung cấp Hành chính với 99 cán bộ, côngchức; 01 lớp trung cấp Hành chính với 113cán bộ, công chức ; 01 lớp trungcấp Hành chính với 80 cán bộ, công chức ; 01 lớp Trung cấp nghiệp vụ vàtrung cấp Chính trị cho Trưởng Công an cấp xã với 91 cán bộ, công chức; 01lớp Trung cấp Hành chính kết hợp đào tạo Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xãvới 50 cán bộ, công chức.- Đầu năm 2012: 01 lớp Đại học Văn hóa với 104 cán bộ, công chức.2.2.2 Thực trạng về bồi dưỡng :- Năm 2005: 02 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chươngtrình chuyên viên với 162 cán bộ, công chức.- Năm 2006: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chươngtrình chuyên viên chính với 58 cán bộ, công chức; 3 lớp bồi dưỡng kiến thứcquản lý nhà nước chương trình chuyên viên với 246 cán bộ, công chức.- Năm 2007: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chươngtrình cán sự với 80 cán bộ, công chức; 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lýnhà nước chương trình chuyên viên với 86 cán bộ, công chức; 02 lớp bồidưỡng chức danh Chủ tịch HĐND-UBND xã với 188 cán bộ, công chức; 02lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức xã với 91 cán bộ,công chức;- Năm 2008: 03 lớp bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho Chủ tịch, Phóchủ tịch UBND cấp xã với 272 cán bộ, công chức- Năm 2009: 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chươngtrình cán sự với 62 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lýnhà nước chương trình chuyên viên với 200 cán bộ, công chức; 01 lớp bồidưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên với 200 cán bộ,công chức; 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cán bộ thôn, ấphuyện Đồng Phú với 135cán bộ, công chức; 03 lớp bồi dưỡng kỹ năng hànhchính cho cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện với 313cán bộ, công chức; 02lớp bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho Trưởng phòng, Phó Trưởng phòngvới 313 cán bộ, công chức; 02 bồi dưỡng kỹ năng hành chính cho cán bộ,công chức cấp xã với 233 cán bộ, công chức; 01 lớp bồi dưỡng kỹ năng hànhchính cho cán bộ, công chức làm tại bộ phận một cửa cấp tỉnh, huyện, xã với129 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ với220 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng Đại biểu HĐND với 314 cán bộ,công chức.- Năm 2011: 01 lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ địachính – xây dựng cấp xã với 110 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng quảnlý nhà nước chương trình chuyên viên với 140 cán bộ, công chức; 03 lớp bồidưỡng kỹ năng hành chính với 297 cán bộ, công chức; 02 lớp bồi dưỡng kỹnăng quản lý và điều hành cho Chủ tịch UBND cấp xã với 110 cán bộ, côngchức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thi đua – Khen thưởng với 215 cán bộ,công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tổ chức nhà nước với 217cán bộ,công chức; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ với 140 cán bộ,công chức; 07 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tôn giáo với 617 cán bộ, công chức.2.2.3. Nhận xét chung2.2.3.1. Thành tựu và nguyên nhânThành tựuMột là, Đã ban hành được hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức và thu hút cán bộ có chất lượng cao về côngtác tại tỉnh và chính quyền cơ sởHai là, Đã xây dựng được các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng từ tỉnh đếnhuyện, thành phố và thực hiện liên kết đào tạo có hiệu quả với các cơ sở đàotạo ngoài tỉnh.Ba là, Quy mô đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng; chuyên ngành đàotạo ngày càng phong phú; nội dung chương trình các khóa bồi dưỡng dầnthiên về bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ có khả năng đáp ứng nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng ngày càng lớn của đội ngũ cán bộ, công chức.Bốn là, Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đã từng bước nâng cao trình độ,chất lượng, năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, côngchức, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chínhtrị.Nguyên nhân1)Công tác đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian qua đã được sự quantâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh.2) Nhiều địa phương, đơn vị, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đã chủ độngphối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài tỉnh mở các lớp đại học, trungcấp hệ vừa làm vừa học tại địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ,công chức tham gia học tập, nâng cao trình độ.3)Việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng được thực hiệnnghiêm túc theo trình tự, thủ tục đã được UBND tỉnh quy định, đảm bảođúng đối tượng, mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời gắn vớiquy hoạch sử dụng cán bộ.2.2.2. Một số tồn tại và nguyên nhânHạn chếBên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứccũng còn một số tồn tại cơ bản, đó là:Một là, đối với cơ quan: Đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với quy hoạchcán bộ. Chưa quan tâm đúng mức đến đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổnhiệm và đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo quản lý đương chức.Cơ quan cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng có xem xét, lựachọn nhưng chủ yếu dựa vào thâm niên công tác, ngạch bậc lương, các mốiquan hệHai là, Đối với cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chủyếu vẫn là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theotiêu chuẩn chức danh công chức hoặc để được đề đạt, bổ nhiệm, đượcchuyển ngạch cao hơn, thậm chí học để “đánh bóng” tên tuổi của mình chứchưa thực sự có mục đích học để nâng cao trình độ, phục vụ cho công việcchuyên môn.Ba là, Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, chương trình đào tạo, bồidưỡng còn nặng về lý luận, dàn trải, thiếu sự liên thông, liên kết, kế thừa,còn trùng lặp về nội dung, thiếu tính thiết thực, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹnăng, nghiệp vụ công tác cho cán bộ, công chứcĐội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức năng lực còn hạn chế, nhất là về kiến thức, kinh nghiệm quản lý nhànước và phương pháp giảng dạy. Trong khi đó, đội ngũ giảng viên kiêmchức tuy có chú trọng xây dựng nhưng chưa được bồi dưỡng thường xuyênvề nghiệp vụ sư phạm, phương pháp giảng dạy cho người lớn tuổi.Chương trình, tài liệu giảng dạy còn lạc hậu, chậm đổi mới; nội dungtrùng lặp, nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành và tổng kết thực tiễn.Bốn là, Chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chưa cao. Hoạt độngđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời gian qua mới chỉ tập trungvào việc trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn trình độ mà chưa tập trung vàoviệc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc.Nguyên nhân1) Nhận thức tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng của cáccơ quan tổ chức, cán bộ, công chức còn hạn chế. Nên chưa có những kếhoạch cụ thể cho việc đào tạo, bồi dưỡng.2) Công tác quy hoạch đào tạo để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứcđảm bảo cơ cấu, chức danh đồng bộ, hợp lý chưa được định hướng rõ; đàotạo, bồi dưỡng chưa gắn với sử dụng.3) Các cơ sở đào tạo chưa quan tâm đến việc xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ giảng viên, nhất là bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thựctiễn, phương pháp giảng dạy mới. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơsở đào tạo thiếu đồng bộ.4) Một bộ phận cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, bồidưỡng còn thụ động; động cơ học tập chủ yếu là để có đủ bằng cấp, chứngchỉ quy định, chưa xuất phát từ nhu cầu, mong muốn thực hiện nhiệm vụ,công vụ được tốt hơn.5) Các chế độ, chính sách cho người được đi đào tạo, bồi dưỡng chưarõ ràng, hạn chế, chưa tạo điều kiện cho họ, không thúc đẩy tích cực việctham gia nâng cao trình độ trong đội ngũ cán bộ, công chức.CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC CẤP Xà TỈNH HƯNGYÊN3.1. Quan điểm của ĐảngĐảng ta luôn xác định “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bạicủa cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Phải thường xuyên chăm loxây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phươngthức lãnh đạo của Đảng…”. Chính vì vậy, các Nghị quyết của Đảng đềudành sự quan tâm thích đáng cho việc đánh giá, chỉ đạo công tác cán bộ nóichung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Từ Nghị quyết Trungương 8 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 6(khoá VIII). Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoáIX) đã ra nghị quyết “về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trịở cơ sở xã, phường, thị trấn”.Đặc biệt, sau nhiều năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là khi thựchiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đạihoá đất nước”, đội ngũ cán bộ đã có bước phát triển về số lượng và chấtlượng, góp phần quan trọng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, giữvững ổn định chính trị, xây dựng tỉnh ngày một phát triển.3.2. Giai pháp3.2.1. Giải pháp chung- Một là, giải pháp về nhận thứccần tăng cường việc quán triệt sâu, rộng nhằm nâng cao hơn nữa nhậnthức, trách nhiệm của cấp uỷ đảng và lãnh đạo các cấp về xây dựng đội ngũcán bộ. Chỉ có hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng độingũ cán bộ, từ đó có dự báo đúng tình hình, đánh giá đúng thực chất đội ngũcán bộ, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, có kế hoạch tuyển dụng, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị tốt cho trước mắt và lâu dài.- Hai là, giải pháp đối với cơ quan, đơn vịCần làm tốt công tác tuyển dụng và sử dụng cán bộ, công chức, đặcbiệt là công tác tuyển dụng công chức. Đồng thời, cần tổng kết đánh giácông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thời gian qua và lãnh đạo, chỉ đạocông tác tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh trong thờigian tới chặt chẽ hơn.- Ba là, giải pháp về cán bộ, công chứcquán triệt thực hiện nghiêm Quyết định số 586-QĐ/TU ngày16/7/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy quy định về chế độ học tập bắt buộcđối với cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên. Cán bộ, công chức phảithực sự có năng lực, phẩm chất , hội tụ cả về trí lực và thể lực để đảm nhiệmtốt các nhiệm vụ được giao phó.Bốn là, , giải pháp về hoàn thiện, phát triển hệ thống pháp luật, cácchế độ, chính sách về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũcán bộ cấp xã.Cần có các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ,hợp lý; có chính sáchthu hút, tuyển chọn nhân tài, tham mưu đề xuất Tỉnh ủy bổ sung chế độ hỗtrợ đối với cán bộ được cử đào tạo trong và ngoài tỉnh cho phù hợp với tìnhhình thực tế, nhất là cán bộ, công chức cấp xã lương thấp, kinh phí cho việchọc và tự học lại gặp rất nhiều khó khăn.Năm là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng quyđịnh công táctuyển chọn công chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ; xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, công chức đã được bổnhiệm, bổ nhiệm lại nhưng chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định.- Sáu là, giải pháp đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡngCó chính sách khen thưởng động viên kịp thời đối với những cán bộtích cực học tập đạt kết quả tốt; nghiêm khắc xử lý những cán bộ, công chứckhông chấp hành quyết định cử đi học, học tập kết quả kém làm lãng phíthời gian, kinh phí và công sức để tổ chức các khóa học, lớp học, làm ảnhhưởng đến kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh theo hình thức không xemxét bổ nhiệm, hạ bậc lương hoặc đến mức kỷ luật phải xử lý kỷ luật.3.2.2. Giải pháp cụ thểThứ nhất, giải pháp tuyển dụng và sử dụng cán bộ công chức.- Mỗi cơ quan đơn vị phải xây dựng được cơ cấu ngạch công chức. Từđó có kế hoạch tuyển dụng người đúng cơ cấu và đủ tiêu chuẩn thông qua thituyển nghiêm túc.- Nghiên cứu, đề xuất nội dung thi tuyển cho phù hợp với từng ngành,từng ngạch công chức theo hướng kết hợp với nội dung hiện có với việc bổsung nội dung chuyên môn để tuyển dụng những công chức có trình độchuyên môn cao.- Xây dựng ngân hàng đề thi ở tất cả các ngành, các ngạch nhằm chủđộng và nâng cao chất lượng thi tuyển.- Việc bố trí sử dụng cán bộ, công chức phải theo cơ cấu ngạch bậc,gắn với chuyên môn đào tạo và sở trường.- Bố trí cán bộ công chức làm đúng chuyên môn, ngành nghề đượcđào tạo và đảm bảo tính ổn định.- Thông qua công tác quản lý đánh giá cán bộ, công chức để nắm chắcnăng lực từng cán bộ, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch và kế hoạch sửdụng lâu dài cho đơn vị.- Một số chức danh cán bộ chuyên trách cần thiết và có đủ điều kiện,tiêu chuẩn của công chức nhà nước thì chuyển sang chế độ công chức nhànước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ các cấp. Số cán bộ này đượchưởng lương chuyên môn, nâng lương theo niên hạn và phụ cấp trách nhiệmtheo chức danh trên cơ sở phân loại xã.- Các chức danh cán bộ chuyên trách khác không đủ điều kiện, tiêuchuẩn để chuyển thành công chức nhà nước thì giữ nguyên. Khi được bầu cửgiữ chức vụ nào thì hưởng chế độ trách nhiệm theo chức vụ đó và thực hiệnchế độ bảo hiểm bắt buộc, khi thôi đảm nhiệm chức vụ thì thôi hưởng trợcấp trách nhiệm và thôi đóng bảo hiểm xã hội.- Đối với cán bộ không chuyên trách thì thực hiện theo chế độ tựquản, khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện.Thứ tư, giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cấp xã trong thời kỳ mới.Mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng là xây dựng đội ngũ cán bộ côngchức Nhà nước thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, trung thành với chế độxã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ, có trình độ quản lý tốt đáp ứng yêucầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước.Công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải căn cứ vào các nội dung sau:- Gắn quy hoạch với đào tạo bồi dưỡng.- Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức Nhà nước nhằmtừng bước đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn về nghiệp vụ công chức do Nhà nướcban hành.- Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng giúp cán bộ, công chức khắc phục tìnhtrạng hẫng hụt về trình độ chuyên môn quản lý, cập nhật các kiến thức đápứng yêu cầu cải cách nền hành chính Nhà nước, kiện toàn, nâng cao hiệu lựccủa bộ máy quản lý Nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá.Định hướng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã+ Đối với đội ngũ công chức hành chính Nhà nước:- Đào tạo để có trình độ học vấn đại học đáp ứng yêu cầu về tiêuchuẩn ngạch công chức. Công chức dưới 45 tuổi đối với nữ và 50 tuổi đốivới nam phải được đào tạo đạt trình độ đại học và các hình thức đào tạothích hợp.- Đào tạo qua thi tuyển để xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, có trìnhđộ và năng lực đề xuất và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách kinhtế – xã hội lớn hoặc các đề án kinh tế – xã hội của địa phương.- Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước, bồi dưỡng lý luận chính trị,an ninh quốc phòng, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ, tin học phục vụ côngtác tham mưu, quản lý.+ Đối với công chức chuyên môn- Ưu tiên đào tạo bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ,ngành nghề mà công chức đang làm.- Tăng cường bồi dưỡng kiến thức về lý luận chính trị, tuyên truyềnphổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cho công chức.- Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng.3.3. Đề xuất, kiến nghịNâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một mục tiêu vừamang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược, là nhiệm vụ không của riêngmột cấp, một ngành nào mà phải là sự nhất quán, phối hợp thực hiện từtrung ương đến cơ sở; phải tổ chức được đông đảo người dân tham gia, thuhút nhân tài đặc biệt là những người trẻ tuổi có kiến thức, kỹ năng, đạo đứcvà tác phong làm việc tốt thông qua hình thức ưu việt đang được Đảng vànhà nước phổ biến là hình thức thi tuyển công chức nhằm lựa chọn chínhxác những cán bộ cấp xã vừa “ hồng” vừa “chuyên’’.KẾT LUẬNTiểu luận “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấpxã ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay” là sự khái quát,minh chứng mộtcách khá toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về việc nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay trong cả nước nói chung và ở tỉnhHưng Yên nói riêng.Nếu như chương I đi làm rõ các khái niệm, nội dung, cũng như sựcần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thìchương II lại đi nghiên cứu cụ thể về thực trạng công tác tuyển dụng, sửdụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán sộ, công chức cấp xã ở một địa bàn cụthể là tỉnh Hưng Yên.Từ những thành tựu cũng như những hạn chế vànguyên nhân được đề cập ở chương II, chương III của tiểu luận đi sâu vàoviệc khai thác, đề xuất những giải pháp cụ thể, đồng thời tác giả bài viếtcũng có một số đề xuất, kiến nghị mang tính xây dựng.Thực tiễn công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã của tỉnh Hưng Yên những năm qua cho thấy, nâng cao chất lượng độingũ cán bộ công chức cấp xã là chủ trương đúng đắn mang tầm chiến lượcquan trọng trong mục tiêu cải cách hành chính, xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button