Uncategorized

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã – TRƯƠꀀNG Đ䄃⌀I H伃⌀C QUY NHƠN KHOA LLCT – LUÂT – StuDocu

TRƯƠꀀNG Đ䄃⌀I H伃⌀C QUY NHƠN

KHOA LLCT – LUÂT V䄃 QU䄃ऀN L夃Ā NH䄃 NƯƠꀁC̣

—————  —————

B䄃I TIỂU LUẬN

MÔN: QU䄃ऀN L夃Ā CÔNG NÂNG CAO

Đề tài: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức cấp xã ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

Giảng viên:

Lớp Cao học: Quản lý kinh tế – khóa 24B

Họ tên học viên:

B椃nh Đ椃⌀nh, tháng 4 năm 2022

LƠꀀI MỞ ĐẦU

Cấp xã luôn có vị trí rất quan trọng trong bộ máy chính quyền của nước ta.

Chính quyền xã có chức năng: bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường

lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyết định của Nhà nước

Chính quyền cấp trên; Quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương, biện

pháp để phát huy mọi khả năng và tiềm năng của địa phương về các mặt chính trị,

kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống

vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã và làm tròn nghĩa vụ của địa phương

với Nhà nước.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ

công chức cấp xã có một vai trò rất quan trọng, bởi đội ngũ cán bộ công chức xã

là lực lượng nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp

xã. Vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị cấp xã là một trong

những nhân tố có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xây

dựng và phát triển đất nước.

Công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân hàng

ngày, giải đáp, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện theo chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng

nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng

của nhân dân. Vì vậy, chất lượng hoạt động của công chức cấp xã ảnh hưởng

trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến sự nghiệp

cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực để có

những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về chất, phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của

huyện Vĩnh Thạnh trở thành nhiệm vụ cấp thiết, nên em đã chọn đề tài tiểu luận

“Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Vĩnh Thạnh,

tỉnh Bình Định” làm chủ đề cho bài tiểu luận của mình.

NỘI DUNG

  • Văn hóa – xã hội.
    Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
    Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao
    gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.

Căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương,
Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã.

Theo Nghị định 34/2019/NĐ-CP ngày 24/9/2019 Sửa đổi, bổ sung một số
quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở
cấp xã, ở thôn, tổ dân phố và Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 07/2/2020 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã
được bố trí theo phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Cụ thể như sau:

a) Loại 1: tối đa 22 người;
b) Loại 2: tối đa 20 người;
c) Loại 3: tối đa 18 người.
Số lượng cán bộ, công chức các xã, thị trấn thuộc huyện Vĩnh Thạnh được
bố trí tối đa theo Nghị định số 34/2019/NĐ-CP

  1. Thị trấn VĩnhThạnh II 20;
  2. Xã Vĩnh Sơn I 22 người;
  3. Xã Vĩnh Kim II 20 người;
  4. Xã Vĩnh Hảo II 20 người;
  5. Xã Vĩnh Hiệp II 20 người;
  6. Xã Vĩnh Thịnh II 20 người;
  7. Xã Vĩnh Hòa II 20 người;
  8. Xã Vĩnh Quang II 20 người;
  9. Xã Vĩnh Thuận II 20 người.
    1. Đặc điểm của công chức xã
    Là những người trưởng thành về thể chất và trưởng thành về mặt xã hội,
    được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong các công
    sở của Nhà nước, đang trực tiếp tham gia vào bộ máy của Nhà nước, như vậy
    công chức xã là những người tự làm chủ được hành vi, thái độ của mình và phải
    tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân, một công chức
    hành chính. Hơn nữa, sự trưởng thành về mặt xã hội còn thể hiện ở cuộc sống
    riêng tư của họ, họ là những người có đầy đủ điều kiện hành vi trước pháp luật.

Công chức có nhiều kinh nghiệm sống, được tích luỹ tuỳ theo lĩnh vực mà
họ hoạt động. Bởi là công chức, họ phải được đào tạo ở trình độ nhất định, cùng
với vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền.

1. Chức năng, nhiệm vụ của công chức cấp xã
1.3. Chức năng của công chức cấp xã

Công chức cấp xã là những người làm công tác chuyên môn thuộc biên chế
của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện
các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao.

Công chức xã là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã
trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân,
thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền
được UBND cấp xã giao.

1.3. Nhiệm vụ công chức cấp xã
Nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định Thông tư số 13/2019/TT-
BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ.

Ngoài nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn theo từng lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp
luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã giao;
công chức cấp xã còn phải trực tiếp thực hiện các công việc sau:

  • Công chức Trưởng Công an xã
  • Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền
    hạn của Ủy ban nhân dân xã trong các lĩnh vực: an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên
    địa bàn theo quy định của pháp luật;

  • Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an
    xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền;

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao;

  • Đối với thị trấn chưa bố trí lực lượng công an chính quy thì Trưởng Công
    an thị trấn thực hiện nhiệm vụ như đối với Trưởng Công an xã quy định tại điểm a,
    điểm b và điểm c Điều 2 Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ
    Nội vụ.

  • Đối với xã, thị trấn bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công
    an xã thì nhiệm vụ của Công an xã chính quy thực hiện theo quy định của pháp
    luật chuyên ngành.

  • Công chức Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã
  • Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về Quốc phòng và
    các quy định khác có liên quan;

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

  • Công chức Văn phòng – Thống kê
  • Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ
    quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê
    cải cách hành chính, thi đua, khen thưởng, kỷ luật theo quy định của pháp luật;

  • Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
    Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịch
    làm việc định kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân

  • Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau: Xây dựng dự toán thu, chi ngân sách
    cấp xã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân
    sách và các biện pháp khai thác nguồn thu trên địa bàn; Tổ chức thực hiện các hoạt
    động tài chính, ngân sách theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên; quyết
    toán ngân sách cấp xã và thực hiện báo cáo tài chính, ngân sách theo đúng quy
    định của pháp luật; Thực hiện công tác kế toán ngân sách (kế toán thu, chi ngân
    sách cấp xã, kế toán các quỹ công chuyên dùng và các hoạt động tài chính khác, kế
    toán tiền mặt, tiền gửi, kế toán thanh toán, kế toán vật tư, tài sản…) theo quy định
    của pháp luật; Chủ trì, phối hợp với công chức khác quản lý tài sản công; kiểm tra,
    quyết toán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân
    dân cấp xã theo quy định của pháp luật;

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
    và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

  • Công chức Tư pháp – hộ tịch
  • Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
    quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Tư pháp và hộ tịch trên
    địa bàn theo quy định của pháp luật.

  • Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau: Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản
    lý tủ sách pháp luật, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; tổ chức phục vụ
    nhân dân nghiên cứu pháp luật; theo dõi việc thi hành pháp luật và tổ chức lấy ý
    kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;
    Thẩm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
    ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; tham gia
    công tác thi hành án dân sự trên địa bàn; Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ
    tịch, chứng thực, chứng nhận và theo dõi về quốc tịch, nuôi con nuôi; số lượng,
    chất lượng về dân số trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp với
    công chức Văn hóa – xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ
    dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn; Chủ trì, phối hợp với công chức khác
    thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; xử lý vi phạm hành chính, giúp Ủy ban nhân
    dân cấp xã xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về hộ tịch trên địa bàn;

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
    và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

  • Công chức Văn hóa – xã hội
  • Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
    quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục, thể
    thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục,
    tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, gia đình, trẻ em và thanh niên theo quy định của
    pháp luật;

  • Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau: Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các
    hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế, giáo dục, gia đình và trẻ em trên
    địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và
    xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn; Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền
    thông về tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương; Thống kê dân số, lao động, việc

làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình
biến động các đối tượng chính sách lao động, người có công và xã hội; tín ngưỡng,
tôn giáo, dân tộc và thanh niên; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế
độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang
liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và
chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn; Theo dõi công tác an toàn thực
phẩm; phối hợp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn; Chủ trì,
phối hợp với công chức khác và Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố xây dựng
hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn;

  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
    và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

1. Chất lượng, các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.4 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Khái niệm chất lượng: Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang
tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm
được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác
nhau.

Chất lượng công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức
khỏe, trí tuệ, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng
lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả
nhiệm vụ đựoc giao. Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước yêu cầu chất lượng đối
với công chức ngày càng cao, đòi hỏi người công chức không những có trình
độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn công chức mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong
về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật rất cao, có tư duy khoa học, lý luận
sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó với tập thể,
với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm,
kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành
nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước.

1.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
Chất lượng đội ngũ công chức xã, thị trấn được thể hiện thông qua hoạt
động của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của chính quyền cấp xã. Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước của UBND cấp xã, cần thiết phải nâng cao chất lượng của
đội ngũ công chức xã trên tất cả các mặt như: phẩm chất đạo đức, trình độ năng
lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ, trình độ năng lực, sự tín nhiệm của nhân
dân, khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người công chức đối
với công vụ được giao,…

Để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức xã cần phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng công chức. Trong thực tế chúng ta cần
phải chống hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít
chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động
không hiệu quả; Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không

Uy tín là sự tín nhiệm và mến phục của mọi người. Uy tín là sự phản ánh
phẩm chất và năng lực của một cá nhân, do đó tất yếu nó phải do phẩm chất và
năng lực quyết định. Tức là người cán bộ phải có chuyên môn giỏi, không có tì
vết về phẩm chất đạo đức, quan hệ gần gũi, hòa nhã với mọi người; luôn lo
sự nghiệp chung nhưng vẫn không quên trách nhiệm, tình cảm của mình với
người thân trong gia đình. Người cán bộ có uy tín thì những người dưới quyền
không chỉ phục tùng mà quan trọng hơn là họ tự giác phục tùng với niềm tin
mãnh liệt.

1.5. Tiêu chí về chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao

  • Kỹ năng giải quyết công việc: Kỹ năng là khả năng vận dụng những
    kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế, kỹ năng công
    việc bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ
    năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng soạn thảo văn bản…Đây là sản
    phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua
    đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác.

  • Chất lượng dịch vụ công được cung cấp: Chất lượng dịch vụ công là kết
    quả hoạt động, hiệu quả quản lý, phục vụ đạt được và được biểu hiện đối với xã
    hội thông qua sự hài lòng của người dân, niềm tin của người dân đối với Nhà
    nước, được xác định thông qua tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả.

Tóm lại: Một đội ngũ công chức có chất lượng là đội ngũ có phẩm chất
chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụng
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quả
nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địa phương
góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1.5. Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý
Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một
tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác
định. Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con
người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ
thể trong các điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm
có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ.

1. Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.6. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch biên chế để phát triển đội ngũ công chức
nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng là một công việc thường
xuyên và quan trọng, đây là quy trình quen thuộc được thực hiện hàng năm. Quy
hoạch tốt, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tế khách quan thì góp
phần cho sự phát triển, ngược lại sẽ gây lãng phí.

Quy hoạch đội ngũ công chức là việc lập dự án, thiết kế xây dựng tổng hợp
đội ngũ công chức; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ công chức theo
một ý đồ rõ rệt với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định làm cơ sở
cho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giới
thiệu công chức ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã được xác định là một nhiệm vụ
thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao
trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cán
bộ, công chức; hướng tới mục tiêu tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi
nhiệm vụ chuyên môn.

Đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình trang bị cho công chức
những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trước hết là những kiến thức về nhà nước,
Pháp luật, phương thức quản lý và các quy trình hành chính trong chỉ đạo,
điều hành, phương pháp, kinh nghiệm quản lý, trang bị kiến thức, kỹ năng
hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức. Nghị định số
18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nhấn mạnh: “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị,
cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được
giao”.

Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng công chức là nhằm trang bị kiến thức, kỹ
năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ
công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện
đại.

Tuy nhiên, để đội ngũ công chức cấp cơ sở có thể tham gia các khóa đào
tạo, bồi dưỡng kiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước có vai
trò tác động rất quan trọng. Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ
thuộc vào các vấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình,
đội ngũ giảng viên; Chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, học phí, thời
gian học; Cơ chế đảm bảo sau đào tạo để tránh lãng phí.

1.6. Công tác tuyển dụng đội ngũ công chức
Tuyển dụng công chức là một hoạt động công, do cơ quan, tổ chức và
người có thẩm quyền thực hiện và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật
thuộc ngành. Thông qua tuyển dụng để tạo nguồn công chức đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức “Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ
vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”.

Tuyển dụng công chức là một trong những nội dung quan trọng quyết định
chất lượng của đội ngũ công chức hiện tại cũng như tương lai. Mục đích của việc
tuyển dụng công chức là nhằm tìm được những người đủ tài và đức, đủ phẩm
chất tốt để đảm nhiệm công việc. Tuyển dụng công chức là tiền đề hết sức quan
trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức nhà nước trong sạch,
vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội để đảm đương những
nhiệm vụ được giao.

Tuyển dụng công chức phải chú ý đến việc tuyển dụng được nhân tài cho
đội ngũ công chức xã; cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng cho việc thu
hút người giỏi tham gia tuyển dụng.

1.6. Công tác sử dụng công chức
Việc sử dụng đội ngũ công chức cấp xã phải xuất phát từ nhiều yếu tố, trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng cơ quan, đơn vị.

huy tin thần hăng say làm việc, phát huy được năng lực, sở trường, rèn luyện kỹ
năng thành thạo công việc khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao
trình độ chuyên môn, góp phần chủ yếu đảm bảo cho việc hoàn thành công vụ
của cơ quan. Vì vậy, công tác phân công, bố trí công chức có ảnh hưởng rất lớn
đối với chất lượng của đội ngũ công chức xã.

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán
bộ, công chức như sau:

  • Bố trí phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Điều đó có
    nghĩa là khi sử dụng cán bộ, công chức, nhất là những người làm nhiệm vụ lãnh
    đạo, quản lý, phải xem xét cả hai yếu tố khách quan (tiêu chuẩn cán bộ, công
    chức) lẫn chủ quan (phẩm chất, năng lực, nguyện vọng…)

  • Đề bạt, cất nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc. Bố trí đề bạt
    không đúng có thể dẫn đến thừa, thiếu cán bộ công chức một cách giả tạo,
    công việc kém phát triển, tiềm lực không được phát huy.

  • Trọng dụng nhân tài, không phân biệt đối xử với người có tài ở trong hay
    ngoài Đảng, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

  • Chú ý kết hợp hài hòa giữa đóng góp của cán bộ công chức với chế độ
    chính sách tiền lương và các đãi ngộ khác. Khi thưởng, phạt phải rõ ràng,
    công bằng, kịp thời, phải căn cứ vào chất lượng, hiêu quả công tác của cán bộ,
    công chức.

1.6. Công tác đánh giá đội ngũ công chức
Đánh giá công chức là hoạt động công vụ được thực hiện từ phía cơ
quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng công chức, tập thể lao động nhằm xem xét
chất lượng công chức dựa trên cơ sở thực tiễn công tác của người công chức và
yêu cầu nhiệm vụ được cơ quan, đơn vị, tổ chức đề ra đối với công chức.

Đánh giá đúng công chức thì toàn bộ quy trình công tác cán bộ sẽ chính
xác, hiệu quả trong chọn người xếp việc được chính xác, tạo điều kiện cho công
chức phát huy được sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời
không bỏ sót nhân lực chất lượng, chọn nhầm nhân lực kém chất lượng. Ngược
lại, đánh giá công chức không đúng thì không những bố trí, sử dụng công chức
không đúng mà quan trọng hơn là mai một dần động lực phát triển, có khi làm
thui chột những tài năng, “vàng thau lẫn lộn”, xói mòn niềm tin của đảng viên,
quần chúng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ
quan, đơn vị.

Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện được giao. Kết quả đánh giá là
căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và
thực hiện chính sách đối với công chức.

Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì đánh giá công chức dựa vào các
nội dung sau:

  • Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
    Nhà nước;

  • Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;

  • Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

  • Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;

  • Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;

  • Thái độ phục vụ nhân dân.
    Ngoài ra đối với công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các
    nội dung sau đây:

  • Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý;

  • Năng lực lãnh đạo, quản lý;

  • Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.
    Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy
    hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái.

Khi đánh giá phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử – cụ thể;
trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ; công khai đối với cán bộ, công chức được đánh giá. Phát huy đầy đủ trách
nhiệm của tập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm
thước đo chủ yếu trong đánh giá công chức.

Đánh giá công chức được coi là tiền đề quan trọng nhất nhưng vẫn là khâu
khó và yếu nhất, khó nhất là đánh giá cái “tâm” và cái “tầm” và bản lĩnh chính trị
của người công chức.

1.6. Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ
Kiểm tra, giám sát công chức nhằm nắm chắc thông tin diễn biến tư
tưởng, tiến trình tiến hành công việc của công chức, giúp cho lãnh đạo cơ
quan, đơn vị phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời uốn nắn sửa chữa
những sai sót của công chức, hạn chế sự lãng phí nguồn nhân lực trong đội ngũ
công chức, kiểm tra giám sát để đánh giá năng lực của từng công chức, từ đó có
hướng bố trí công việc phù hợp hơn hoặc xắp xếp, đề bạt công chức hợp lý,
đào tạo, bồi dưỡng công chức có năng lực kém, kịp thời đáp ứng công việc.

1. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nước bao gồm các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.

1.7. Các nhân tố khách quan
Chế độ, chính sách đối với công chức: Chế độ, chính sách đối với công
chức là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công chức. Chế độ, chính
sách là do con người tạo ra, nhưng đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động
của con người. Chế độ, chính sách hợp lý có thể mở đường, là động lực thúc
đẩy tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi người, nhưng
cũng có thể kìm hãm hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của công chức.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng công chức phải gắn liền với đổi mới hệ thống
cơ chế, chính sách. Trong đó tiền lương là một yếu tố quan trọng bậc nhất của

Chương 2: THỰC TR䄃⌀NG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN VĨNH TH䄃⌀NH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

2. Khái quát điều kiện kinh tế – xã hội huyện Vĩnh Thạnh
2.1. Điều kiện tự nhiên

Vĩnh Thạnh là huyện miền núi của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy
Nhơn khoảng 80km; phía Bắc giáp huyện An Lão, phía Nam giáp huyện Tây Sơn,
phía Đông giáp huyện Phù Cát và Hoài Ân, phía Tây giáp huyện Kbang và thị xã
An Khê (tỉnh Gia Lai). Toàn huyện có 09 xã, thị trấn với tổng dân số 34 người,
trong đó đồng bào dân tộc thiểu số 10 người, chiếm 29,2% (chủ yếu là dân tộc
Bana); 13 cơ quan chuyên môn và 29 đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

2.1. Đặc điểm về kinh tế – xã hội
Trong những năm gần đâydưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính
quyền, sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành trong huyện, cùng với sự
giúp đỡ kịp thời, hiệu quả của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh nên kinh tế – xã
hội của huyện có bước phát triển, ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ
vững, đời sống Nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm
nhanh, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. Đồng bào các dân tộc luôn đoàn kết,
tin tưởng và chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.

Tuy nhiên, huyện Vĩnh Thạnh vẫn là một địa phương còn nhiều khó
khăn, do địa hình phức tạp, phần lớn đất đai thuộc đồi núi, giao thông đi lại
không thuận lợi, đặc biệt là 2 xã Vĩnh Sơn và Vĩnh Kim. Tình hình thiên tai, dịch
bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển kinh tế – xã hội và đời sống Nhân dân.

2. Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
Nhìn chung, đa số công chức cấp xã có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt,
trung thành với lý tưởng, kiên định với mục tiêu xây dựng CNXH, tin tưởng
vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, có lối sống giản dị, trong sáng, am hiểu đời
sống nhân dân, tâm huyết với cơ sở.

Các cấp ủy, tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở đã nhận thức sâu sắc, đúng đắn
về vị trí, yêu cầu của công tác cán bộ và nâng cao chất lượng công chức cấp xã
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công tác cán bộ
trong thời gian gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ 2015 – 2020 ngày càng đổi mới
hơn, đảm bảo khách quan, dân chủ, chặt chẽ và đúng quy trình.

Công chức cấp xã đã từng bước được chuẩn hóa, việc đánh giá, quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, bố trí, sử dụng công chức được
thực hiện dân chủ, nề nếp hơn, đã đào tạo và bồi dưỡng công chức, nâng cao
trình độ cả về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý kinh tế, quản lý xã hội;
thực hiện tốt chính sách đối với công chức.

Đội ngũ công chức cấp xã của huyện tăng dần về số lượng và từng
bước nâng cao về chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đoàn kết giữ vững
phẩm chất cách mạng, luôn tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng; là tác

nhân quan trọng góp phần lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã
hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của địa
phương vững mạnh.

Có thể nói, đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn 2016 – 2020 đã
từng bước được phát triển, chuẩn hóa về số lượng và chất lượng.

2.2. Số lượng, cơ cấu đội ngũ công chức cấp xã huyện Vĩnh Thạnh

  • Số lượng công chức xã theo địa bàn và vị trí công việc
  • Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí công tác từ năm
    2016 – 2020 thể hiện tại bảng 1.

Bảng 1. Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí công tác
từ năm 2016 – 2020

TT Chức danh đảm nhiệm 2016 2017 2018 2019 2020
1 Trưởng CA 9 9 9 9 9
2 Chỉ huy trưởng QS 9 9 9 9 9
3 Văn phòng – TK 18 18 20 20 20
4 Địa chính – NN – XD 18 19 19 19 19
5 Tài chính – KT 9 10 12 13 13
6 Tư pháp – HT 18 18 18 18 18
7 Văn hóa – XH 18 18 18 18 18
Tổng 99 101 105 106 106

Qua Bảng 1 ta thấy, toàn huyện năm có 106 công chức cấp xã, số lượng
công chức cấp xã cơ bản đầy đủ theo từng vị trí công tác. Trong đó, một số chức
danh có số lượng công chức chuyên môn được phân bổ nhiều như Địa chính –
NN – XD và Môi trường, Văn hóa – XH, Tư pháp – HT, các chức danh trên
được phân bổ nhiều hơn đã phản ảnh đúng thực tế công việc.

  • Số lượng và cơ cấu công chức xã theo giới tính và độ tuổi
  • Số lượng và cơ cấu công chức chuyên môn theo giới tính.
    Bảng 2. Số lượng và cơ cấu công chức theo giới tính năm 2 020

TT Chức danh
Số lượng
(người)

Cơ cấu
Nam % Nữ %

1 Trưởng Công an 9 9 100 – –
2 Chỉ huy trưởng QS 9 9 100 – –
3 Văn phòng – Tê 20 9 45 11 55
4 Địa chính – XD – NN
và MT 19
14 73,68 5 26,

5 Tài chính – Kế toán 13 2 15,38 11 84,

công chức có trình độ chuyên môn đại học tăng mạnh về số lượng là 106.

Có được trình độ công chức cấp xã trong giai đoạn 2016 – 2020 như trên là
do được sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện trong công tác đào
tạo, tuyển dụng; sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã chưa
đạt chuẩn và sự tạo điều kiện của các xã, thị trấn đối với các công chức xã trong
quá trình đi học.

2.2.2. Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

  • Về trình độ lý luận chính trị
    Bảng 5. Thực trạng công chức đạt chuẩn theo trình độ lý luận,
    ngoại ngữ, tin học từ năm 2016 – 2020

TT Tiêu chuẩn

2016 2018 2020
Số
lượng
Tỷ lệ
Số
lượng
Tỷ lệ
Số
lượng
Tỷ lệ

1 Lý luận chính trị 99 100 101 100 106 100
2 Quản lý nhà nước 35 35,4 40 39,6 97 91,
3 Ngoại ngữ 99 100 101 100 106 100
4 Tin học 99 100 137 100 106 100
Qua số liệu Bảng 5 ta thấy, tỷ lệ công chức có trình độ lý luận đạt
chuẩn (từ sơ cấp trở lên) từ năm 2016 đến năm 2020 chiếm khoảng 100%. Tỷ lệ
công chức đạt chuẩn về trình độ quản lý nhà nước vẫn còn thấp, trong 5 năm từ
năm 2016 đến năm 2020 tỷ lệ này dao động từ 35,4% đến 91,5%, số lượng cán
bộ công chức đạt chuẩn về trình độ quản lý nhà nước trong giai đoạn này là 97
cán bộ công chức đạt chuẩn về trình độ quản lý nhà nước. Việc bồi dưỡng kiến
thức quản lý nhà nước rất quan trọng đối với đội ngũ công chức, bởi vì sau khi
được tuyển dụng vào công chức thì công chức phải trải qua lớp bồi dưỡng kỹ
năng quản lý nhà nước để làm quen với công việc sẽ đảm nhiệm trong cơ quan
nhà nước ở địa phương, đồng thời tích lũy các kỹ năng để đáp ứng yêu cầu của
cải cách hành chính.

Số lượng công chức đạt chuẩn về ngoại ngữ, tin học năm 2020 là 106 đạt
chuẩn ngoại ngữ, tin học.

  • Về phẩm chất chính trị.
    Với 89 người vào Đảng chiếm tỷ lệ 83,96% (trên tổng số 106 công
    chức); với người chưa vào Đảng là 17 chiếm tỷ lệ 16,04%. Đây là một tỷ lệ rất
    cao, đáp ứng được vị trí, chức danh của người cán bộ cơ sở, thể hiện được sự nỗ
    lực, cố gắng rèn luyện, công tác cũng như sự nhận thức, giác ngộ lý tưởng
    cách mạng đúng đắn của đội ngũ công chức xã.

  • Về đạo đức lối sống
    Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã là một trong những lực lượng nòng cốt
    của chính quyền cấp xã. Vì vậy, yêu cầu của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
    phải có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt. Điều này được thể hiện ở thái độ cần
    kiệm, liêm chính, chí công vô tư, nhiệt tình với công việc, tận tụy với nhân dân,

có ý thức tổ chức kỷ luật công tác tốt. Người cán bộ cần phải trung thực, không
cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân và được nhân dân tín nhiệm.

2.2.2. Về chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao
Hàng năm trên cơ sở hướng dẫn đánh giá xếp loại cán bộ, công chức, viên
chức của Phòng Nội vụ huyện Vĩnh Thạnh, các xã đã tổ chức hội nghị đánh
giá, phân loại đối với đội ngũ công chức cấp xã và tổng hợp kết quả, phân loại
hoàn thành nhiệm vụ đối với công chức cấp xã, đề nghị tặng giấy khen của Chủ
tịch UBND huyện cho công chức xã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Kết quả phân loại, đánh giá của các xã đội ngũ công chức hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ năm 2020 là 18 người, hoàn thành tốt nhiệm là 88 người.

2.2.2. Về năng lực tổ chức, quản lý công việc
chất lượng công chức xã trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh từng bước
được củng cố và kiện toàn; các chức danh được sắp xếp ổn định và phát huy tác
dụng. Hoạt động quản lý, điều hành của UBND cấp xã tiến bộ rõ rệt, phục vụ
nhân dân ngày càng tốt hơn, chế độ chính sách đối với công chức cấp xã được cải
thiện từng bước theo hướng đổi mới.

Từ thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện hiện nay, đặt
ra chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức cấp xã trong những
năm tiếp theo để nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ này đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ mới. Ngoài việc cấp ủy các cấp quy hoạch cử cán cán bộ, công
chức cấp xã đi học các chương trình về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị,
quản lý nhà nước..ì bản thân đội ngũ công chức cấp xã cần chủ động và xác
định rõ việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt là yếu tố rất quan trọng.

2.2.2. Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ở
huyện Vĩnh Thạnh

Trong những năm qua, các cấp chính quyền huyện Vĩnh Thạnh luôn quan
tâm xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ
phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương. Đến nay, hệ
thống tổ chức chính quyền cấp xã đã đi vào nền nếp và ổn định; Ủy ban nhân dân
đã tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, kinh tế

  • xã hội phát triển, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia
    quản lý Nhà nước và giải quyết những vấn đề bức xúc trong dân. Các biện
    pháp cụ thể mà huyện Vĩnh Thạnh đã thực hiện trong thời gian qua là:

  • Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức

  • Công tác tuyển dụng đội ngũ công chức

  • Công tác sử dụng công chức

  • Công tác đánh giá đội ngũ công chức

  • Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ
    2.2.2. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ công chức xã huyện
    Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

a) Ưu điểm

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button