Uncategorized

Bài-luận – nothing – MỤC LỤC Trang 1. PHẦN MỞ – StuDocu

MỤC LỤC Trang

  • 1. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………..
  • 2. PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………………………………………….
    • Chương 1. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập…………………….
      • 1 Những khái niệm cơ bản………………………………………………………………………..
        • 1.1 Khái niệm về các mặt đối lập……………………………………………………………
        • 1.1 Khái niệm về mâu thuẫn biện chứng………………………………………………..
        • 1.1 Phân loại mâu thuẫn……………………………………………………………………….
        • 1.1 Khái niệm về sự thống nhất……………………………………………………………..
        • 1.1 Khái niệm về sự đấu tranh……………………………………………………………….
      • 1 Nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập………..
      • 1 Ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập………..
  • vào hoạt động học nhóm của sinh viên………………………………………………………………. Chương 2. Việc vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
    2 Phương pháp học nhóm của sinh viên……………………………………………………
    viên………………………………………………………………………………………………………….. 2 Những lợi thế và mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động học nhóm của sinh
    của sinh viên…………………………………………………………………………………………….. 2 Những giải pháp để giải quyết mâu thuẫn và phát triển khả năng học nhóm
    2.3 Những giải pháp khắc phục hạn chế của hình thức học nhóm………….
    2.3 Một số giải pháp phát triển khả năng học nhóm……………………………..
  • 3. KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………..
  • 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………………

1. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………..

Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện
chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển cua tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” 1. Trong phép biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù cơ bản và 3 quy luật.

vào hoạt động học nhóm của sinh viên………………………………………………………………. Chương 2. Việc vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

biện chứng. Theo V.Iênin, “Có thể vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống
nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều
đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” 2.
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc,
động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển. Theo quy luật này,
nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là
mâu thuẫn khách quan, vồn có của sự vật, hiện tượng. Qua thực tiễn lịch sử, con người và
xã hội cũng đã kiểm chứng được quy luật đó. Như Việt Nam ta khi chuyển từ nên kinh tế
tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa cũng đã
vướng không ít mâu thuẫn, giữa tính tự phát và tính định hướng, giữa mặt tích cực và tiêu
cực của kinh tế thị trường. Mâu thuẫn cũng tồn tại ngay trong cuộc sống hằng ngày của
chúng ta, và một trong những mặt dễ thấy nhất là mâu thuẫn vừa thống nhất, vừa đối lập
phát sinh trong quá trình học tập – nghiên cứu của học sinh, sinh viên. Cơ sở lý thuyết và
thực tế thiếu sự thống nhất và còn có những mặt đối lập nhất định. Muốn cho quá trình
học tập đạt được kết quả tốt nhất thì trước hết chúng ta cần đặt vấn đề giải quyết những
mâu thuẫn hiện hữu tạo sự thống nhất trong kiến thức và phải được kiểm nghiệm bằng
thưc tiễn khoa học.
Thấy được sự cần thiết và thú vị của các vấn đề giữa thống nhất và đối lập vận dụng
những kiến thức thu được trong quá trình học tập nhóm, cho nên nhóm sẽ quyết định chọn
đề tài “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Việc vận dụng quy luật này

1 Hội đồng xuất bản C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (1994). C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập. Hà Nội: Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật, tập 20, trang 201,
2 V.Iênin (1981). Toàn tập. Moskva: Nhà xuất bản tiến bộ, trang 240, 116, 268

1.1 Khái niệm về mâu thuẫn biện chứng
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau theo hướng trái
ngược nhau, xung đột lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẩn biện chứng là
khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa thống nhất, vừa đấu tranh; vừa
đòi hỏi vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.
Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì mâu thuẫn biện chứng tồn tại một
cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng
trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận
thức. Mâu thuẫn biện chứng không phải là ngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu
thuẫn trong lôgic hình thức. Mâu thuẫn trong lôgic hình thức là sai lầm trong tư duy.
Theo Ph.Ăngghen thì:
“Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng sự mâu thuẫn,
thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt cựu sự sống hữu
cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng sự mâu thuẫn… sự sống
trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác.
Như vậy sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình,
mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống
cũng không còn nữa và cái chết xảy đến. Cũng như chúng ta đã nhận thấy rằng trong lĩnh
vực tư duy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn, chăng hạn như mâu thuẫn giữa năng
lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người và sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong
những người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng lực
nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó
ít ra đối với chúng ta trên thực tiễn cũng là vô tận và được giải quyết trong sự vận động đi
lên vô tận.” 3.

3 Hội đồng xuất bản C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (1994). C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập. Hà Nội: Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

1.1 Phân loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng, cũng như trong tất cả các giai
đoạn phát triển của chúng. Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng. Tính phong phú đa
dạng được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện
tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống (sự vật) mà trong đó mâu
thuẫn tồn tại.
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, có thể phân biệt thành mâu thuẫn
bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:

  • Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh
    hướng đối lập của cùng một sự vật.
  • Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra
    trong mối quan hệ sự vật đó với các sự vật khác
    Việc phân chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ là
    sự tương đối, tuỳ theo phạm vi xem xét. Cùng một mâu thuẫn nhưng xét trong mối quan
    hệ này là mâu thuẫn bên ngoài nhưng xét trong mối quan hệ khác lại là mâu thuẫn bên
    trong. Để xác định một mâu thuẫn nào đó là mâu thuẫn bên trong hay mâu thuẫn bên
    ngoài trước hết phải xác định phạm vi sự vật được xem xét.
    Ví dụ: Trong phạm vi nước ta mâu thuẫn trong nội bộ nên kinh tế quốc dân là mâu
    thuẫn bên trong; còn mâu thuẫn về kinh tễ giữa nước ta với các nước thành viên trong
    ASEAN là mâu thuẫn bên ngoài. Nếu trong phạm vi ASEAN thì mâu thuẫn giữa các nước
    thành viên trong khối lại là mâu thuẫn bên trong.
    Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động và
    phát triển của sự vật. Còn mâu thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật.
    Tuy nhiên mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài không ngừng có tác động qua lại
    lẫn nhau. Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu
    thuẫn bên ngoài; việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu
    thuẫn bên trong. Thực tiễn cách mạng nước ta cũng cho thấy: Việc giải quyết những mâu

động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất định. Việc giải quyết mâu
thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản.

  • Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai
    đoạn phát triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu
    thuẫn chủ yếu chi phối. Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng
    bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
    Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, có thể chia mâu thuẫn trong xã
    hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:

  • Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp những tập
    đoàn người, có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
    Ví dụ: Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, giữa vô sản với tư sản, giữa dân tộc bị
    xâm lược và bọn đi xâm lược…

  • Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có
    lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục
    bộ, tạm thời.
    Ví dụ: Mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông
    thôn,…

Việc phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa trong việc xác
định đúng phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn đối kháng phải bằng
phương pháp đối kháng; giải quyết mâu thuẫn không đối kháng thì phải bằng phương
pháp trong nội bộ nhân dân.

1.1 Khái niệm về sự thống nhất
Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng và
được thể hiện ở, thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa và làm tiền đề cho nhua tồn tại; thứ
hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng thể hiện sự đấu tranh giữa cái mới
đang hình thành với cái cũ chưa mất hắn; thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng.

Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với
nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời
nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền
đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những
nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối
lập. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất”
của các mặt đó.
Ph.Ăngghen đã đưa ra ví dụ:
“Giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập, với tính cách như vậy chúng hợp
thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất, chế độ tư hữu với tư cách là sự giàu có buộc
phải duy trì vĩnh viễn ngay cả sự tồn tại của mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản” 5.
Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến
một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự thống nhất của các mặt
đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Song đó chỉ là trạng thái vận
động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối
lập.

1.1 Khái niệm về sự đấu tranh
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà còn luôn luôn đấu tranh với nhau.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo
hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng.
Hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào
tính chất, vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra
trong cuộc đấu tranh giữa chúng.

5 Hội đồng xuất bản C. Mác và Ph. Ăngghen tuyển tập (1980). C. Mác và Ph. Ăngghen: Tuyển tập. Hà Nội: Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

chuyển hóa lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới
ra đời thay thế cái cũ.

1 Ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa
phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải quyết đúng cho
hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát
hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái
ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại
lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
V. I. Lênin viết: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự thống nhất của các bộ phận
của nó…, đó là thực chất… của phép biện chứng” 6
Khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét quá trình phát sinh, phát triễn của từng mâu
thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét
quá trính phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại
giữa chúng. Chỉ có như thế mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu
hướng vận động, phát triển và điều kiện giải quyết mâu thuẫn.
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không
được điều hòa mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ
phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết
mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi. Mâu thuẫn khác
nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra phương thức giải quyết mâu
thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ
thể.
Thứ nhất , mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, phổ biến nên
phải tôn trọng mâu thuẫn.

6 V. I. Lenin (1981). Bút kí triết học. Moskva: Nhà xuất bản tiến bộ

Thứ hai , phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn để tìm ra cách giải quyết phù hợp;
xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều kiện chuyển hóa giữa
chúng tránh rập khuôn, máy móc…
Thứ ba , phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các
mặt đối lập không điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, vì giải quyết
mâu thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa.

Chương 2. Việc vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
vào hoạt động học nhóm của sinh viên

2 Phương pháp học nhóm của sinh viên
Đầu tiên cần phải phân biệt giữa hai khái niệm cơ bản: “học” và “hoạt động học”.
Học là một quá trình lĩnh hội những kinh nghiệm và dẫn đến việc có sự thay đổi về hành
vi, về nhận thức. Việc học diễn ra trong mọi mặt đời sống hằng ngày, ở bất cứ đâu. Còn
khái niệm “hoạt động học” dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức nhà trường –
một phương thức học đặc biệt của loài người (có tổ chức, điều khiển, nội dung, trình tự,
…). Vậy có thể nói hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi
mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định nhắm phát triển nhân cách của chính mình.

Hiện nay ở nước ta phương pháp học và dạy học ở bậc phổ thông và đại học là rất
khác nhau. Đối với cấp học phổ thông, phương pháp thường thấy là chủ yếu thầy cô giảng
và đọc cho học sinh ghi chép, ít có giờ thảo luận và trao đổi trong quá trình học.

Ở đại học các thầy cô giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm
tài liệu và nghiên cứu, những lời giảng của các thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, và hướng
dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận… còn chủ yếu dựa vào khả năng tự
tiếp thu, tự nghiên cứu và xử lý kiến thức của sinh viên đối với bài học đó… Do sinh viên
được xem là những người trưởng thành, việc học ở đại học nhấn mạnh đến sự tự giác của
mỗi cá nhân. Vì thế nên cách học ở đại học luôn xoay quanh vấn đề: làm sao để tự nỗ lực

định, kỹ năng quản lí thời gian, thích nghi và linh hoạt… Có thể điểm qua một số lợi ích
của phương pháp này như sau:

Thứ nhất, học nhóm sẽ giúp bạn phát huy được mặt mạnh và cải thiện mặt còn chưa
mạnh. Khó có một người theo kiểu “Biết tuốt” như “Hiệu trưởng Google”, có người thế
mạnh ở môn học này, có người lại giỏi ở môn kia. Và đó là quy luật bù trừ của những
người trong cùng một nhóm.

Thứ hai , rèn luyện tư duy phản biện. Học nhóm mang tính chất hỗ trợ, hợp tác
nhưng đôi khi cũng cần có sự tranh luận về một vấn đề bất đồng. Điều này khó có được
khi tự học ở nhà. Qua sự bất đồng ý kiến, các thành viên trong nhóm sẽ lập luận, phân
tích và thuyết phục các thành viên khác tin vào ý kiến của mình. Việc thực hành như thế
có thể rèn luyện cho não khả năng tư duy nhanh hơn, kỹ năng lập luận phản biện và sáng
tạo. Môi trường học nhóm đảm bảo việc học hiểu sâu hơn và đa chiều về các kiến thức
mà nếu tự học có thể bạn sẽ bỏ qua.

Thứ ba , lấp đầy lỗ hổng kiến thức cho tất cả nhóm. Học nhóm mang lại một cơ hội
tuyệt vời để lấp đầy những thiếu sót của mình cũng như hỗ trợ bổ sung cho các bạn yếu
hơn. Bằng cách so sánh ghi chép của bản thân với các thành viên khác, bạn có thể đánh
giá chính xác, cải thiện những thiếu sót, và có thêm những ý tưởng tốt hơn.

Thứ tư, học nhóm có thể giúp bạn rút ngắn thời gian làm bài, thay vì tự mình xử lí
núi bài tập, giờ đây các bạn có thể chia nhau ra làm, không những có thể nhận ra những ý
tưởng mới đầy sáng sáng tạo, mà còn gắn kết tình bạn với nhau

Tuy mang nhiều lợi ích, nhưng nhiều sinh viên vẫn không tận dụng được lợi thế của
cách học này, do không thể giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ việc làm việc chung
này, có thể kể đến một số mâu thuẫn như sau:

Thứ nhất , mâu thuẫn về thời gian, do phải phụ thuộc vào các thành viên khác, dễ bị
phân thâm, chi phối bởi môi trường xung quanh. Nhiều bạn nghĩ rằng học nhóm sẽ rất
thoải mái vì nó là hình thức vừa học vừa chơi, vừa học vừa nói chuyện, "tạt ngang tạt

ngửa" bàn chuyện này chuyện khác… Điều ấy đang làm hao tốn thời gian của bạn một
cách vô ích.

Thứ hai , mâu thuẫn về trọng tâm kiến thức. Đôi khi những người bạn trong nhóm
không có kiến thức như bạn, họ muốn dành nhiều giờ nghiên cứu một chủ đề mà bạn đã
biết rõ trong lòng bàn tay. Khác với tự học, bạn hoàn toàn có thể tập trung vào những chủ
đề mà bạn chọn và dành ít thời gian hơn cho những kiến thức bạn đã làm chủ được. Điều
này có nghĩa là bạn có thể dùng thời gian của mình một cách khôn ngoan hơn.

Thứ ba , mâu thuẫn giữa việc học những môn cần ghi nhớ khi học nhóm hay không,
vì một số môn học cần sự yên tĩnh để ghi nhớ. Nhiều sinh viên với khả năng tập trung còn
không cao, họ khó ghi nhớ mọi thứ nếu không có không gian yên tĩnh. Và học nhóm sẽ
không phù hợp cho những người như thế.

Thứ tư, mâu thuẫn về vai trò khi làm việc chung, hay có thể hiểu là khi những

gì mà người ta mong đợi bạn ở vai trò này lại đối lập với những gì mà người ta mong đợi
bạn ở vai trò khác.

Thứ năm, mâu thuẫn do thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, đặc biệt là kỹ năng

giải quyết xung đột, kỹ năng chia sẻ trách nhiệm, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá

hoạt động nhóm…

Thứ sáu, mâu thuẩn về ý thức học tập trong nhóm khi mà một số thành viên có

thái độ thụ động, chờ đợi thành quả từ người khác, bản thân đùng đầy trách nhiệm,

chỉ nhận trách nhiệm nhẹ nhàng nhất, sau đó viện lí do khi mình làm không được,

hoặc tìm cách đổ lỗi cho thành viên khác, hoặc dạng “gió chiều nào theo chiều ấy”,

ai nói gì cũng đồng tình qua loa cho xong chuyện. Những thành viên như thế

thường sẽ gây hại cho cả nhóm, thay vì phát triển đi lên thì nó bị kìm hãm lại

2. Giải pháp để giải quyết mâu thuẫn và phát triển khả năng hoạt động học
nhóm của sinh viên

2.3 Một số giải pháp phát triển khả năng học nhóm

  • Tổ chức nhóm phải chặt chẽ, có cơ cấu tổ chức hợp lý hợp thành thể thống nhất,
    từng thành viên và nhóm trưởng phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong
    việc thực hiện quy trình học nhóm khi học tập các môn học.

  • Cần tuân thủ các khâu, các bước của quy trình học nhóm; quản lý chặt chẽ kế
    hoạch học nhóm của mỗi nhóm, tránh tạo thành buổi trao đổi ngoài những nội dung học
    tập.

  • Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng, trình độ, sở trường của từng thành
    viên, mỗi người phải nhận rõ trách nhiệm của mình trong quy trình học nhóm.

  • Cần tạo ra bầu không khí trao đổi cởi mở, thân thiện, hợp tác, hỗ trợ nhau cùng tiến
    bộ; không áp đặt lối suy nghĩ riêng của cá nhân trong quá trình trao đổi, khi họp nhóm cần
    chú ý tính toán thời gian bảo đảm mỗi cá nhân có đủ thời gian để tiến hành ôn tập riêng
    trong học tập.

  • Tiến hành rút kinh nghiệm sau mỗi lần học nhóm khi kết thúc môn học kịp thời bổ
    sung, điều chỉnh cách thức phối hợp hoạt động trong nhóm để nâng cao chất lượng học
    tập của SV hiện nay.

  • Kết hợp thêm một số hình thức học khác. Ngoài học nhóm, áp dụng một số
    phương pháp học tập khác để khắc phục lại hạn chế của mình, điển hình nhất là hình thức
    tự học**.** Tự học là kĩ năng tự lập nghiên cứu, tự tìm hiểu thông tin, không lệ thuộc nhiều
    vào người khác. Những khi gặp vấn đề khó, sinh viên tự học sẽ nghiên cứu, tự vận dụng
    và liên hệ những kiến thức cùng với thông tin tự tìm tòi của mình để giải quyết vấn đề.
    Điều đó sẽ mang lại cho bản thân người học nhớ lâu hơn về kiến thức đó. Ngoài ra, thuận
    lợi của việc tự học hoặc ôn thi một mình còn giúp bạn linh động trong thời gian học, dễ
    dàng lựa chọn địa điểm để học, phân chia thời gian học phù hợp với bản thân.

3. KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………..

Tóm lại, bài tiểu luận về chủ đề “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập. Việc vận dụng quy luật này trong hoạt động thực tiễn.” đã nêu rõ về nội dung cũng
như ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặc đối lập và cách mà ta vận
dụng nó để làm động lực phát triển trong thực tiễn cụ thể là giải quyết những mâu thuẫn
thường gặp trong phương pháp học nhóm

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập luôn tồn tại trong mọi mặt đời
sống và là động lực, là nguồn gốc cho sự phát triển. Hiểu được các quy luật đấu tranh và
thống nhất trong các mặt đối lập giúp chúng ta nhìn nhận một cách khách quan và khoa
học nhất đối với các mặt của đời sống xã hội nhất là đối với sinh viên hiện đại trong quá
trình học tập và làm việc trong môi trường đại học và trong cuộc sống xã hội.

Học tập là một vấn đề quan trọng và xuyên suốt cuộc sống của con người, trong quá
trình đấy không thể tránh khỏi việc nãy sinh những vấn đề mâu thuẫn với nhau. Nếu
không thể giải quyết được những mâu thuẫn phát sinh đấy thì chính cách học đó sẽ kéo
người học lại, làm hao phí thời gian, công sức mà hiệu quả lại thấp. Mỗi người sẽ có một
cách học của riêng mình, và học nhóm là một trong những phương pháp phổ biến và rất
hiệu quả, nhưng cũng có nhưng mâu thuẫn riêng cần giải quyết của mỗi nhóm học tập,
giải quyết được những mâu thuẫn đó sẽ làm tăng hiệu quả học tập của chính mình.

4. TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………………

1. Dao Nguyen (04/09/2020). Kỹ năng làm việc nhóm và xây dựng nhóm làm

việc hiệu quả. Truy cập từ kenhtuyensinh/ly-thuyet-co-ban-ve-ky-nang-

lam-viec-nhom-cach-phat-trien-nhom?

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button